Chào mừng bạn đến với Hội Thánh Của Đấng Christ - Chúc bạn ngày tốt lành với sự nhận biết về Đầng Christ!

Tin Lành Đấng Christ

Hãy cùng nhận biết về Tin Lành của Đấng Christ. Bài học này sẽ giúp chúng ta hiểu về tin dữ và tin lành. Vì sao chúng ta cần nghe tin lành và làm thể nào để được cứu.

TIN DỮ CHO LOÀI NGƯỜI. BÀI SỐ 1

1.     Tội Là Gì? Phạm Vào Lời Đức Chúa Trời Là Tội.

Gốc từ Hơbơrơ ḥṭ’ mang nghĩa chỉ về người cung thủ “trượt mục tiêu” như trong Các Quan Xét 20:16.

Từ Hy Lạp “hamartia

Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp. (1Giăng 3:4)

Khi làm trái luật tức là phạm tội mà luật ở đây không phải thuộc  phạm vi một quốc gia nào nhưng luật thuộc về Đức Chúa Trời và chính là lời của Ngài. Như Đức Chúa Trời có phán rằng:

Vì Áp-ra-ham đã vâng lời tađã giữ điều ta phán dạy, lịnh, luật và lệ của ta. Sáng thế ký 26:5

Như trên cho thấy rằng lời Đức Chúa Trời cũng chính là điều Ngài phán, lịnh, luật và lệ của Ngài.

Chúng ta cần nhận biết rằng định nghĩa về tội lỗi không do con người đặt ra nhưng nó đến bởi Đức Chúa Trời, vì Ngài là Đấng sáng tạo trời đất này và cầm quyền. Cho nên Ngài nói thế nào là phạm tội thì chúng ta phải tin! Như vậy không phải là chúng ta nói thế này mới là tội, thế kia mới là tội mà quan trọng là Đức Chúa Trời nói.

Minh chứng cho sự phạm lời Đức Chúa Trời dẫn đến tội lỗi.

Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn. 16 Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; 17 nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết. Sáng thế ký 2:15-7

Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn. 18 Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng; 19 ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi. Sáng thế ký 3:17-19

Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian... Rôma 5:12

Chỉ vì không vâng theo tiếng phán hay lời của Đức Chúa Trời mà tội lỗi đã vào trong thế gian này, bởi cớ A-đam. Và vì đó mà mọi người trên đất này lao khổ cho sự hư không phải sống theo luật (lời) mà Đức Chúa Trời định cho phần xác thịt này. Sanh ra chịu khó nhọc để có cái ăn, uống rồi trở về bụi đất.

Như vậy tội lỗi là việc làm trái ý Đức Chúa Trời, không vâng lời Đức Chúa Trời.

2.     Việc Phạm Tội Dẫn Đến Điều Gì? Sự Chết:

Nầy, mọi linh hồn đều thuộc về ta; linh hồn của cha cũng như linh hồn của con, đều thuộc về ta; linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết. Êxêchiên 18:4

Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết. Con sẽ không mang sự gian ác của cha và cha không mang sự gian ác của con. Sự công bình của người công bình sẽ được kể cho mình, sự dữ của kẻ dữ sẽ chất trên mình. Êxêchiên 18:20

Ai phạm tội cùng Đức Chúa Trời thì phải chết, tức là phạm vào lời Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời nằm trong kinh thánh.

Nên ghi nhớ rằng việc chúng ta bị tòa án đời này xét xử là lẽ dĩ nhiên, nhưng đến ngày phán xét chung kết thế gian này chúng ta sẽ bị Đức Chúa Trời xét đoán và ai phạm tội thì phải chịu hình phạt đời đời trong hồ lửa chẳng hề tắt.

Nếu bạn không thể chịu đựng bị đốt bằng lửa đời này dù chỉ trong ít phút, thì hãy nhớ rằng lửa của Đức Chúa Trời không hề tắt mà bạn phải ở trong đó đến đời đời chịu phạt vì phạm tội cùng Ngài. Thì khủng khiếp biết bao!

3.     Có Bao Nhiêu Người Phạm Tội Với Đức Chúa Trời? Cả Loài Người.

Như có chép rằng: Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không. 11 Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. 12 Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích; Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không.13 Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. 14 Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng. 15 Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu. 16 Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn, 17 Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an. 18 Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó. Roma 3:10-18

Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, (Roma 3:23)

Mọi quốc gia, mỗi con người ai cũng phạm tội cùng Đức Chúa Trời. Không ngoại lệ ai hết.

Khi loài người ở trong tội lỗi thì mang những đặc tính sau:

  • Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không.
  • Chẳng có một người nào hiểu biết. Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời.
  • Đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích.
  • Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không.
  • Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng.
  • Có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu.
  • Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn.
  • Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an.
  • Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời.

Đó là những điều mà cả loài người chúng ta đều mắc phải, không người nào hiểu biết về Đức Chúa Trời, không người nào công bình, tất cả đều đi lạc trong thế gian này và không hề biết đến con đường bình an của Đức Chúa Trời. Cũng chẳng có một ai tìm cầu Đức Chúa Trời. Vì thế không một ai trong chúng ta có được phương cách tìm ra con đường bình an cũng như sự cứu rỗi cho loài người.

4.     Tội Lỗi Gây Ra Điều Gì Cho Loài Người?

Làm cho giữa loài người và Đức Chúa Trời có sự ngăn cách, có một bức tường.

Nầy, tay Ðức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được; tai Ngài cũng chẳng nặng nề mà không nghe được đâu. Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Ðức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa. (Êsai 59:1-2)

Sự gian ác các ngươi đã làm cho những sự ấy xa các ngươi; tội lỗi các ngươi ngăn trở các ngươi được phước. Giêrêmi 5:25

Chúng ta vẫn biết Ðức Chúa Trời chẳng nhậm lời kẻ có tội... Giăng 9:31

 Tội lỗi làm cho loài người trở nên thù nghịch với Đức Chúa Trời.

Còn anh em ngày trước vốn xa cách Đức Chúa Trời, và là thù nghịch cùng Ngài bởi ý tưởng và việc ác mình, Côlôse 1:21

 Xa cách sự sống của Đức Chúa Trời.

Vậy, nầy là điều tôi nói và điều tôi nhân danh Chúa mà rao ra: ấy là anh em chớ nên ăn ở như người ngoại đạo nữa, họ theo sự hư không của ý tưởng mình, bởi sự ngu muội ở trong họ, và vì lòng họ cứng cỏi nên trí khôn tối tăm, xa cách sự sống của Ðức Chúa Trời. Êphêsô 4:17-18

Như vậy tự chúng ta làm ra sự ngăn cách với Đức Chúa Trời, sự ngăn cách đó là tội lỗi. Nó cũng tương tự như việc ai đó làm tổn thương ta và tự nhiên có một bức tường vô hình xuất hiện làm cho chúng ta không muốn tiếp cận người đó nữa.

5.     Tội Làm Cho Loài Người Trở Thành Tôi Mọi Cho Nó.

Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi. Vả, tôi mọi không ở luôn trong nhà, mà con thì ở đó luôn. (Giăng 8:34-35.

Thế nào! Chúng ta có điều gì hơn chăng? Chẳng có, vì chúng ta đã tỏ ra rằng người Giu-đa và người Gờ-réc thảy đều phục dưới quyền tội lỗi. Rôma 3:9

... vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó. 2 Phi-e-rơ 2:19

Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình. Ðoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết.  Gia 1:14-15

... kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ, Hơbơrơ 2:14

Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ; vì ma quỉ phạm tội từ lúc ban đầu... 1Giăng 3:8

Khi phạm tội, người phạm sẽ trở nên tôi mọi cho tội lỗi và tự khắc thuộc về ma quỉ và ở dưới quyền cai trị của sự chết.

Minh chứng cho bản chất tội lỗi của loài người.

Người nữ đáp rằng: Chúng ta được ăn trái các cây trong vườn, 3 song về phần trái của cây mọc giữa vườn, Đức Chúa Trời có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng. 4 Rắn bèn nói với người nữ rằng: Hai ngươi chẳng chết đâu; 5 nhưng Đức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác. 6 Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn, bèn hái ăn, rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa. 7 Đoạn, mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân. 8 Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Sáng Thế Ký 3:2-8

Bản chất của sự làm tôi mọi là có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó. Như vậy từ khi có hai người đầu tiên trên đất này, họ đã để cho tư dục xui giục mình, rồi để sự đó vào lòng ôm ấp nó, nuôi dưỡng nó (Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn), rồi thì sinh ra hành động hái trái cây đó và ăn. Khi họ ăn là lúc sanh ra tội ác (vì phạm vào lời của Đức Chúa Trời), sự nghe theo hay để cho ý muốn của tư dục và ma quỉ dẫn dắt đã làm cho người làm theo trở thành tôi mọi của nó khi việc làm được trọn.

 Khi hai người đầu tiên phạm tội họ có ngay những bản chất làm tôi mọi cho tội lỗi như:

Thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời hay mất đi sự công bình (trong sạch) mà khi Ngài tạo dựng họ, họ đã có sẵn điều đó bằng chứng là họ giao tiếp với Đức Chúa Trời, được tự do ở trong vườn của Ngài và được tự do ăn hoa quả, kể cả trái của cây sự sống đời đời! Chỉ trừ cây mà Ngài phán dặn không ăn thôi.

Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn. 16 Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; 17 nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết. Sáng thế ký 2:15-17

Vả, A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng, mà chẳng hổ thẹn. Sáng thế ký 2:25

Sau khi ăn tức tội lỗi đã trọn thì điều đầu tiên loài người nhận ra đó là mình đã đánh mất sự công bình, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Đoạn, mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ). Vậy từ chổ không hổ thẹn họ thành ra người hổ thẹn vì cớ chiếc áo công bình đã mất và họ thấy sự không công bình. Như vậy làm ứng nghiệm với lời phán rằng: Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời.

Việc thứ hai mà thể hiện bản chất làm tôi mọi cho tội lỗi là: Chẳng có một người nào hiểu biết = bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân. Chúng ta thấy rằng việc chọn trái cây không theo ý Đức Chúa Trời (quí vì để mở trí khôn) đã dẫn loài người vào con đường dại dột, dốt nát, bại hoại và không hiểu biết, khi họ chọn lấy lá cây để che thân đồng nghĩa rằng họ tự lập ra sự chuộc tội cho mình và cho rằng mình phục hồi được sự vinh hiển như ban đầu. Nhưng chúng ta biết rằng ngay từ ban đầu bởi lời của Đức Chúa Trời mà có thế gian cũng bởi ý muốn Ngài mà có loài người, lại cũng bởi sự hà hơi của Ngài mà loài người trở nên linh hồn sống, thì cũng bởi Ngài mà chúng ta có sự vinh hiển. Do đó việc lấy lá cây che thân là hành động dại dột nhận sự vinh hiển đến từ nó chứ không đến bởi Đức Chúa Trời. Và là hành động tìm cách xưng công bình theo ý mình.

Điều tiếp theo là vì cớ làm tôi mọi cho tội lỗi nên con người bị ngăn cách với Đức Chúa Trời và không còn tìm cầu Ngài nữa.

nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời” = “Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích”

Ðức Giê-hô-va phán: Có người nào có thể giấu mình trong các nơi kín cho ta đừng thấy chăng? Ðức Giê-hô-va phán: Há chẳng phải ta đầy dẫy các từng trời và đất sao? Giêrêmi 23:24

Trước đây khi chưa phạm tội thì họ nghe lời Ngài mà không chạy trốn, nay họ nghe tiếng Ngài thì lẫn trốn. Việc lẫn trốn Đức Chúa Trời là vô ích và sai lạc. Vậy thì vì cớ tội lỗi làm tôi mọi cho nó mà loài người tự làm ra sự ngăn cách và không muốn gặp và tìm kiếm Đức Chúa Trời nữa.

Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu? 10 A-đam thưa rằng: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình. 11 Đức Chúa Trời phán hỏi: Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng mình lõa lồ? Ngươi có ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn đó chăng? 12 Thưa rằng: Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi. 13 Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán hỏi người nữ rằng: Ngươi có làm điều chi vậy? Người nữ thưa rằng: Con rắn dỗ dành tôi và tôi đã ăn rồi. Sáng thế ký 3:9-13

Việc Đức Chúa Trời hỏi A-đam ở đây không phải là Ngài không biết A-đam trốn ở đâu, nhưng sự hỏi đó thể hiện tình yêu thương mong đợi sự ăn năn, quay trở lại của A-đam.

Bởi cớ là tôi mọi cho tội lỗi hay ma quỉ mà câu nói của A-đam đã trở nên “Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng.” Vì ông trả lời một cách phỉnh gạt Đức Chúa Trời rằng: “Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi”. Ông đổ lỗi cho Đức Chúa Trời chứ không hề nhận lỗi cũng không tìm cầu Ngài sự ăn năn. Như thế cho thấy không có sự kính sợ Đức Chúa Trời vì nếu có thì A-đam đã không đổ lỗi cho Ngài và cũng đã không phạm tội.

A-đam và Ê-va đã không hề biết con đường bình an mà ăn năn cùng Ngài, và từ đây họ sống dưới chế độ nô lệ cho tội lỗi và cả thế hệ con cháu sanh ra trong thế giới tội lỗi.

“Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn,  Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an.” = “Ngài phán cùng người nữ rằng: Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi. 17 Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn. 18 Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng; 19 ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi. 20 A-đam gọi vợ là Ê-va, vì là mẹ của cả loài người”. Sáng thế ký 3:16-20

Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn đuổi loài người ra khỏi vườn Ê-đen đặng cày cấy đất, là nơi có người ra. Sáng thế ký 3:23

Hình ảnh đuổi loài người ra khỏi vườn Ê-đen cho thấy chúng ta không còn là con Ngài nữa, không còn là người công bình nữa, không còn có sự giao thông với Ngài nữa.

Kể từ đó trở đi cả thế hệ loài người đều chịu phục dưới tội lỗi và phải hầu việc nó. Không còn hầu việc cho Đức Chúa Trời nữa vì cớ rằng đang làm tôi mọi cho tội lỗi. Vậy thì từ đó mọi việc loài người làm đều trái ý Ngài, dù có khắc khổ thân xác, làm lành lánh dữ (theo cách loài người) thì cũng chỉ là vô ích vì mọi việc đó là đang làm cho tội lỗi và ma quỉ. Vì cớ đó mà kinh thánh nói rằng: “Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không

Từ khi loài người phạm tội thì không còn ở trong nhà của Đức Chúa Trời vì cớ đang làm tôi mọi, vì chỉ có con mới được ở trong nhà. Cũng như chỉ người được tạo dựng hoàn hảo vô tội mới ở trong vườn Ê-đen và được phép có sự sống đời đời. Người phạm tội phải bị đuổi ra.

6.     Tâm Tánh Loài Người Xấu Xa, Là Loài Xấu Vì Cớ Tội Lỗi.

... Ta chẳng vì loài người mà rủa sả đất nữa, vì tâm tánh loài người vẫn xấu xa từ khi còn tuổi trẻ; ta cũng sẽ chẳng hành các vật sống như ta đã làm. Sáng thế ký 8:21

Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? Giêrêmi 17:9

Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng, những tội giết người, tà dâm, dâm dục, trộm cướp, làm chứng dối, và lộng ngôn. Mathiơ 15:19

Loài người vốn là xấu... Mathiơ 7:11

Hỡi dòng dõi rắn lục; bay vốn là loài xấu, làm sao nói được sự tốt? Bởi vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra. Mathiơ 12:34

Bởi sự phạm tội mà loài người trở thành dòng dõi rắn lục, nghĩa là dòng dõi của ma quỉ, bản chất trong lòng vốn là xấu xa. Không thể làm điều chi tốt lành.

7.     Loài Người Không Thể Tự Cứu Chuộc Lẫn Nhau.

Chẳng có người nào chuộc được anh em mình, Hoặc đóng giá chuộc người nơi Ðức Chúa Trời, Hầu cho người được sống mãi mãi, Chẳng hề thấy sự hư nát. Vì giá chuộc mạng sống họ thật mắc quá, Người không thể làm được đến đời đời. Thi thiên 49:7-9

Chúng ta hết thảy là phận tôi mọi đồng nghĩa là tù nhân của ma quỉ thì mãi mãi tự chúng ta thoát cũng không được, còn việc cứu người khác là không thể.

Loài người tự cổ chí kim không ai thoát được con đường của cả thế gian phải đi (tức sự chết), thì làm sao có ai có thể cứu giúp nhau không chết.

Nếu cái chết thân xác mà chúng ta còn không tự mình thoát được thì còn nói đến chuyện tự thoát khỏi sự trừng phạt trong lửa đời đời của Đức Chúa Trời chi nữa.

Chúng ta hết thảy cũng như kẻ mù vậy, không ai dẫn dắt ai được hết! Kẻ mù có thể nào làm sáng mắt kẻ mù chăng?

… nếu kẻ mù dẫn đưa kẻ mù, thì cả hai sẽ cùng té xuống hố. Mathiơ 15:14

8.     Không Có Đức Chúa Trời Và Đấng Christ Là Không Có Hy Vọng Sống.

trong thuở đó, anh em không có Ðấng Christ, bị ngoại quyền công dân trong Y-sơ-ra-ên, chẳng dự vào giao ước của lời hứa, ở thế gian không có sự trông cậy và không có Ðức Chúa Trời. Êphêsô 2:12

Hết thảy các dân tộc ngoài quyền công dân Israel là dân ngoại tức là dân trước khi có Đấng Christ. Mà dân ngoại thì không can dự gì với luật pháp của Môi-se. Nên giữa thế gian này chúng ta không có hy vọng. Nhưng nếu có Đấng Christ và Đức Chúa Trời thì có hy vọng sống.

9.     Kết Quả Cuối Cùng Là Sự Chết.

Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật. 19 Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, 20 bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được, 21 vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. 22 Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại; 23 họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng. 24 Cho nên Đức Chúa Trời đã phó họ sa vào sự ô uế theo lòng ham muốn mình, đến nỗi tự làm nhục thân thể mình nữa, 25 vì họ đã đổi lẽ thật Đức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính thờ và hầu việc loài chịu dựng nên thế cho Đấng dựng nên, là Đấng đáng khen ngợi đời đời! A-men. 26 Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đàn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên. 27 Những người đàn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đàn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đàn ông cùng đàn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình. 28 Tại họ không lo nhìn biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó họ theo lòng hư xấu, đặng phạm những sự chẳng xứng đáng. 29 Họ đầy dẫy mọi sự không công bình, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa những điều ghen ghét, giết người, cãi lẫy, dối trá, giận dữ; 30 hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ; 31 dại dột, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót. 32 Dầu họ biết mạng lịnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm các tội dường ấy là đáng chết, thế mà chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa. Roma 1:18-32

Thế  thì anh em đã được kết quả gì? Ấy là quả  mà anh em hiện nay đương hổ thẹn; vì sự cuối cùng của những điều đó tức là sự chết. (Roma 6:21)

Vì tiền công của tội lỗi là sự chết... (Roma 6:23)

Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại? Mathiơ 16:26

Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét, Hơbơrơ 9:27

Đây là con đường mà mọi người phải đi từ dân thường đến nhà chấp chính, từ người giàu có đến nghèo khó. Sau sự chết của thân xác này sẽ đến sự phán xét của Đức Chúa Trời cho mọi linh hồn.

Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Ðấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt. 2Côrinhtô 5:10

Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Ðấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy. Biển đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm. Ðoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa. Khải huyền 20:11-15

Như vậy loài người chúng ta đứng trước một cảnh trạng đen tối:

  • Vi phạm lời hoặc sống không theo ý Đức Chúa Trời là tội.
  • Việc phạm tội dẫn đến sự chết.
  • Tất cả đã phạm tội cùng Đức Chúa Trời và không có một người công bình và trở thành loài xấu xa.
  • Tội lỗi gây ra tình trạng ngăn cách với Đức Chúa Trời và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Cản trở loài người nhận phước từ Ngài. Xa cách sự sống của Đức Chúa Trời.
  • Làm tôi mọi cho tội lỗi và thuộc về ma quỉ, ở ngoài nhà Đức Chúa Trời.
  • Loài người không thể tự cứu chuộc lẫn nhau. Hoặc tự cứu chính mình.
  • Nẻo cuối cùng của mọi người là sự chết và sự phán xét đi vào hồ lửa đời đời.

Với mọi điều trên chúng ta cần một tin lành, cần một sự giải cứu. Cần một giải pháp cho hiện trạng của chúng ta. Và chúng ta biết rằng hiện tại chúng ta đang trong tù nên không thể trông đợi vào những người cùng cảnh ngộ với chúng ta để giải cứu chúng ta. Chúng ta cần một tia hy vọng từ bên ngoài.


Tin Lành Bài Số 2

Trong bài học này chúng ta sẽ tìm hiểu ai đưa ra giải pháp cho hiện trạng vô vọng của loài người. Và giải pháp này có giá trị như thế nào đối với tội nhân.

I.            Nguồn Gốc Sự Cứu Rỗi Từ Đức Chúa Trời.

Trong khi loài người phạm tội và lẫn trốn Đức Chúa Trời không tìm cầu Ngài nữa thì Ngài tìm chúng ta như: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu?”. Dẫu cho A-đam lẫn trốn Ngài nhưng Đức Chúa Trời vẫn tìm.

Trong khi loài người đi lầm lạc không biết đến con đường bình an và không ăn năn, cũng như không hề tìm giải pháp để thoát khỏi tội lỗi của mình thì Đức Chúa Trời làm giúp chúng ta như ban lời hứa giải cứu cho loài người ngay trước khi đưa ra hình phạt cho hai người đầu tiên trên đất:

Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người. Sáng thế ký 3:14-15

Đây là lời hứa giải cứu từ nơi Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ cứu loài người thoát khỏi ách nô lệ của ma quỉ, bằng một Đấng giải cứu sanh ra bởi người nữ!

Đức Chúa Trời không vui về sự loài người đi vào chổ chết. Ngài muốn cứu chuộc chúng ta.

Chúa Giê-hô-va phán rằng: Ta há có vui chút nào về sự chết của kẻ dữ sao? Há chẳng thà vui về sự nó xây bỏ đường lối mình và nó sống sao? Ê-xê-chi-ên 18:23

Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời. Giăng 3:16

Đức Chúa Trời là nguồn gốc của sự cứu rỗi. Sự cứu rỗi đến từ Đức Chúa Trời và Ngài là tác giả của chương trình này.

II.            Đấng Giải Cứu Đến Từ Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Jêsus Christ giáng lâm trong hình hài con người đóng vai trò làm Đấng giải cứu trong chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Thiên-sứ bèn nói rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Ðức Chúa Trời. Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jêsus. Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Ðấng Rất Cao; và Chúa, là Ðức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Ða-vít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng. Luca 1:30-33

Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên. 9 Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi. 10 Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân; 11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. Lu-ca 2:8-11

A.     Ngài đến để tìm và cứu người hư mất, tội lỗi. Đến để gọi kẻ có tội ra khỏi vòng xiềng xích.

Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội. (Mathiơ 1:21)

Ðức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy.... 1Timôthê 1:15

Bởi Con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất. Luca 19:10

Vì Con người đã đến cứu sự đã mất. Mathiơ 18:11

Hãy đi, và học cho biết câu nầy nghĩa là gì: Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của lễ. Vì ta đến đây không phải để kêu kẻ công bình, song kêu kẻ có tội. Mathiơ 9:13

Ðức Chúa Jêsus nghe vậy, bèn phán cùng họ rằng: Chẳng phải kẻ mạnh khỏe cần thầy thuốc đâu, nhưng là kẻ có bịnh; ta chẳng phải đến gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội. Mac 2:17

Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài, trong Con đó chúng ta có sự cứu chuộc, là sự tha tội. (Côlôse 1:13-14)

Tin tốt lành là chúng ta có một Đấng cứu thế, Ngài cứu loài người ra khỏi tội bởi sự giải thoát chúng ta khỏi sự làm tôi mọi cho tội lỗi cho ma quỉ và dời chúng ta ra khỏi vương quốc của Satan mà đi vào trong vương quốc của Đấng Christ. Vậy trong Đấng Christ chúng ta có sự tha thứ. Được giải thoát khỏi vương quốc của ma quỉ. Vào vương quốc của Đấng Christ.

  • Đấng Christ là Đấng cứu chuộc, cứu Chúa của người có tội.
  • Sự cứu rỗi duy nhất đến thông qua Đức Chúa Jêsus Christ.

B.     Lời Của Đấng Christ Đưa Tội Nhân Đến Cùng Đức Chúa Trời.

Ðang khi người còn nói, bỗng chúc có một đám mây sáng rực che phủ những người ở đó; và có tiếng từ trong mây phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường; hãy nghe lời Con đó! (Mathiơ 17:5)

Vậy Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. (Giăng 14:6)

Nghe lời của Đấng Christ mới được đến cùng Đức Chúa Trời còn nghe lời người nào khác hơn thì không được. Đức Chúa Trời đã chỉ định như vậy loài người phải vâng theo Đấng Christ mà đến cùng Ngài.

Như vậy bởi Đấng Christ chúng ta sẽ gở bỏ được cái màn ngăn cách là tội lỗi giữa loài người và Đức Chúa Trời vì cớ được đến gần Ngài qua Đấng Christ.

Lời của Đấng Christ là lời có quyền:

     Buông tha khỏi ách làm tôi mọi ma-quỉ mà trở nên tự do.

     Làm cho sống đời đời.

     Xét đoán mọi người nơi ngày tận thế.

 

1.      Buông tha khỏi ách làm tôi mọi ma-quỉ mà trở nên tự do.

Bởi Ðức Chúa Jêsus nói như vậy, nên có nhiều kẻ tin Ngài. Bấy giờ Ngài phán cùng những người Giu-đa đã tin Ngài, rằng: Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta; các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi. Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do? Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi. Vả, tôi mọi không ở luôn trong nhà, mà con thì ở đó luôn. Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do. Giăng 8:30-36

2.      Làm cho sống đời đời.

Ấy là thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống. Giăng 6:63

Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời; chúng tôi đã tin và nhận biết rằng Chúa là Ðấng thánh của Ðức Chúa Trời. Giăng 6:68-69

Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu kẻ nào giữ lời ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ. Giăng 8:51

3.      Xét đoán mọi người nơi ngày tận thế.

Người nào bỏ ta ra và không nhận lãnh lời ta, đã có kẻ xét đoán rồi; lời ta đã rao giảng, chính lời đó sẽ xét đoán họ nơi ngày sau cùng. Bởi ta chẳng nói theo ý riêng ta; nhưng Cha sai ta đến, đã truyền lịnh cho ta phải nói điều chi và phải nói thể nào. Ta biết mạng lịnh Cha, ấy là sự sống đời đời. Vậy, những điều ta nói, thì nói theo như Cha ta đã dặn. Giăng 12:48-50

Sự cứu rỗi chỉ đến thông qua lời của Đấng Christ. Chỉ duy nhất lời của Đấng Christ là lời làm cho sống, lời của loài người không đem lại sự sống. Không vâng phục lời của Đấng Christ là tội. Xem bài thẩm quyền trong tôn giáo.

C.     Danh Christ Mang Đến Sự Cứu Rỗi.

Cách duy nhất mà sự cứu rỗi đến là phải thông qua danh Christ, ngoài danh đó ra không có sự cứu rỗi trong danh nào khác. Không vâng theo danh này không có sự cứu rỗi.

Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Ðức Chúa Jêsus là Ðấng Christ, tức là Con Ðức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống. Giăng 20:31

Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu. Công vụ 4:12

1.      Nhờ danh Christ mà có sự tha tội cho người tin

Hỡi các con cái bé mọn ta, ta viết cho các con, vì tội lỗi các con đã nhờ danh Chúa được tha cho. 1Giăng 2:12

hết thảy các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài. Công vụ 10:43

Ngài phán: Có lời chép rằng Ðấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại, và người ta sẽ nhân danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem. Luca 24:46-47

Sự cứu rỗi đến thông qua danh Christ và duy nhất chỉ thông qua danh ấy loài người mới được cứu.

D.     Việc làm của Đấng Christ mang đến sự cứu rỗi.

  • Sự Chết Của Đấng Christ Làm Ra Sự Cứu Rỗi.
  • Huyết Của Đấng Christ Làm Ra Sự Cứu Rỗi.
  • Sự Sống Lại Từ Sự Chết Của Đấng Christ Làm Ra Sự Cứu Rỗi.

1.      Sự Chết Của Đấng Christ Làm Ra Sự Cứu Rỗi.

     Sự chết của Đấng Christ có giá trị chuộc tội cho mọi người.

Ấy vậy, Con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người. Mathiơ 20:28

     Đấng Christ chết cho cả những người phạm tội dưới giao ước cũ.

Nhân đó, Ngài là Ðấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình. Hơbơrơ 9:15

     Đấng Christ chịu chết vì ai? Vì người có tội, người thù nghịch cùng Đức Chúa Trời.

Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành.  Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. Rôma 5:6-8

Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Ðấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; 1Côrinhtô 15:3

Ai tin điều đã rao truyền cho chúng ta, và cánh tay Ðức Giê-hô-va đã được tỏ ra cho ai? Người đã lớn lên trước mặt Ngài như một cái chồi, như cái rễ ra từ đất khô. Người chẳng có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ; khi chúng ta thấy người, không có sự tốt đẹp cho chúng ta ưa thích được. Người đã bị người ta khinh dể và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi người ra gì. Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Ðức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Ðức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người. Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng. Bởi sự ức hiếp, và xử đoán, nên người đã bị cất lấy; trong những kẻ đồng thời với người có ai suy xét rằng người đã bị dứt khỏi đất người sống, là vì cớ tội lỗi dân ta đáng chịu đánh phạt? Người ta đã đặt mồ người với những kẻ ác, nhưng khi chết, người được chôn với kẻ giàu; dầu người chẳng hề làm điều hung dữ và chẳng có sự dối trá trong miệng. Ðức Giê-hô-va lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người, và khiến gặp sự đau ốm. Sau khi đã dâng mạng sống người làm tế chuộc tội, người sẽ thấy dòng dõi mình; những ngày người sẽ thêm dài ra, và ý chỉ Ðức Giê-hô-va nhờ tay người được thạnh vượng. Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thỏa mãn. Tôi tớ công bình của ta sẽ lấy sự thông biết về mình làm cho nhiều người được xưng công bình; và người sẽ gánh lấy tội lỗi họ. Vậy nên ta sẽ chia phần cho người đồng với người lớn. Người sẽ chia của bắt với những kẻ mạnh, vì người đã đổ mạng sống mình cho đến chết, đã bị kể vào hàng kẻ dữ, đã mang lấy tội lỗi nhiều người, và cầu thay cho những kẻ phạm tội. Ê-sai 53

     Sự chết của Đấng Christ làm nên sự hòa thuận cho chúng ta với Đức Chúa Trời.

Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài... Rôma 5:10

     Đấng Christ chịu chết bao nhiều lần thì đủ? Một lần đủ cả!

Vả, Ðấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Ðấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Ðức Chúa Trời; về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết, nhưng về phần linh hồn thì được sống. 1Phi-e-rơ 3:18

... Ðấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người... Hơbơrơ 9:28

     Sự chết của Đấng Christ phá diệt kẻ cầm quyền sự chết.

Vậy thì, vì con cái có phần về huyết và thịt, nên chính Ðức Chúa Jêsus cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ, lại cho giải thoát mọi người vì sợ sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời. Hơbơrơ 2:14-15

Như vậy sự chết của Đấng Christ giải thoát chúng ta khỏi ách tôi mọi cho tội lỗi, làm cho chúng ta hòa thuận với Đức Chúa Trời. Sự chết của Đấng Christ chuộc tội cho những người phạm tội dưới giao ước cũ (tức dân Isarel trước Đấng Christ). Sự chết của Đấng Christ là tin lành đối với chúng ta.

2.      Huyết Của Đấng Christ Làm Ra Sự Cứu Rỗi.

     Huyết của Đấng Christ đổ ra cho ai và để làm gì? Cho tội nhân để tha tội và xưng công bình cho mọi người.

vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội. Mathiơ 26:28

Ấy là trong Ðấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài, Êphêsô 1:7

vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Ðấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít, 1Phi-e-rơ 1:18-19

... chúng ta nhờ huyết Ngài được xưng công bình, thì sẽ nhờ Ngài được cứu khỏi cơn thạnh nộ là dường nào! Roma 5:9

là Ðấng Ðức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Ðấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia, Roma 3:25

bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Ðức Chúa Trời. Côlôse 1:20

     Huyết của Đấng Christ làm sạch bao nhiêu tội? Mọi tội lỗi.

Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Ðức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta. 1Giăng 1:7

     Huyết của Đấng Christ có giá trị cho bao nhiêu người, quốc gia và bao nhiêu lần đổ huyết thì đủ? Có giá trị cho tất cả và đến đời đời.

...vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Ðức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước, Khải huyền 5:9

Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời. Hơbơrơ 9:12

     Nhờ có sự đổ huyết ra mới có sự tha thứ

Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ. Hơbơrơ 9:22

Như vậy, chỉ duy nhất thông qua huyết báu của Đấng Christ mới làm sạch mọi tội chúng ta, Ngài đổ huyết chỉ một lần đủ cho tất cả. Và tin lành là thông qua huyết báu của Đấng Christ chúng ta có sự cứu rỗi.

3.      Sự Sống Lại Từ Sự Chết Của Đấng Christ Làm Ra Sự Cứu Rỗi.

Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta. Roma 4:25

Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Ðức Chúa Trời, mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài, thì huống chi nay đã hòa thuận rồi, chúng ta sẽ nhờ sự sống của Con ấy mà được cứu là dường nào! Roma 5:10

Nếu Đấng Christ đã không sống lại thì chúng ta sẽ không có sự cứu rỗi, vì sự sống lại của Đấng Christ mang đến sự xưng công bình và sự sống cho chúng ta. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời Ngài đã sống lại và sống vì sự sống của chúng ta.

E.      Trong Đấng Christ hưởng các phước lành của Đức Chúa Trời.

Ngợi khen Ðức Chúa Trời, Cha Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Ðấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời, (Êphêsô 1:3)

     Trong Đấng Christ loài người có tất các phước hạnh từ Đức Chúa Trời.

trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Ðấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Ðức Chúa Trời, (Êphêsô 1:4)

Chương trình cứu chuộc loài người là ý định ngay từ khi chưa có thế gian này. Và ý muốn của Đức Chúa Trời là chọn chúng ta trong Đấng Christ để làm nên sự công bình thánh sạch. Chỉ có ở trong Đấng Christ thì Đức Chúa Trời mới chọn, còn ngoài Đấng Christ thì không có sự công bình.

bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Ðức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài, (Êphêsô 1:5)

Ở trong Đấng Christ không còn làm tôi mọi cho ma quỉ nữa, nhưng được vị trí làm con nuôi của Đức Chúa Trời. Mà đã là con thì được ở trong nhà của Ngài.

để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài! (Êphêsô 1:6)

Ấy là trong Ðấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài, mà Ngài đã rải ra đầy dẫy trên chúng ta cùng với mọi thứ khôn ngoan thông sáng, khiến chúng ta biết sự mầu nhiệm của ý muốn Ngài, theo ý định mà Ngài đã tự lập thành trước trong lòng nhân từ Ngài Êphêsô 1:7-9

Khi được tha tội trong Đấng Christ thì cũng là lúc được xưng công, được nên thánh và có sự vinh hiển của Đức Chúa Trời một cách nhưng không. Không còn là người thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời nữa.

Trong Đấng Christ không còn là người thiếu hiểu biết nữa, mà là người khôn ngoan thông sáng vì cớ được ban cho hiểu biết sự mầu nhiệm của ý muốn Đức Chúa Trời.

Ấy cũng là trong Ngàichúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp, như đã định trước cho chúng ta được điều đó, theo mạng của Ðấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán, Êphêsô 1:11

Trong Đấng Christ chúng ta trở thành kẻ dự phần kế nghiệp sự sống đời đời, điều đó là sự định sẵn trước cho chúng ta trong Ngài.

Ấy lại cũng trong Ngài mà anh em sau khi đã nghe đạo chân thật, là đạo Tin Lành về sự cứu rỗi anh em, ấy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Ðức Thánh Linh là Ðấng Chúa đã hứa, Ðấng ấy làm của cầm về cơ nghiệp chúng ta, cho đến kỳ chuộc lấy những kẻ mà Ngài đã được để khen ngợi sự vinh hiển Ngài. Êphêsô 1:13-14

Chỉ trong Đấng Christ loài người mới có đạo chân thật hay lời chân thật về sự cứu rỗi để nghe. Ngoài Đấng Christ ra không có đạo chân thật, lời chân thật, tin lành chân thật về sự cứu rỗi để nghe.

Chỉ trong Đấng Christ loài người mới nhận được Đức Thánh Linh. Nhận Đức Thánh Linh như là một của cầm về cơ nghiệp. Nghĩa là có Đức Thánh Linh thì mới nhận được cơ nghiệp nơi đời sau.

III.            Đức Thánh Linh Đóng Vai Trò Trong Sự Cứu Rỗi.

A.     Được tái sanh bởi Đức Thánh Linh.

Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Ðức Chúa Trời. Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy. Giăng 3:5-8

B.     Đức Thánh Linh chỉ được ban cho kẻ vâng phục Đấng Christ.

Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy. Ngài phán điều đó chỉ về Ðức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy... Giăng 7:38-39

Còn Chúng ta đây là kẻ làm chứng mọi việc đó, cũng như Ðức Thánh Linh mà Ðức Chúa Trời đã ban cho kẻ vâng lời Ngài vậy. (Công vụ 5:32)

Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Ðức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Ðức Thánh Linh. (Công vụ 2:38)

C.     Đức Thánh Linh làm ấn chứng cho người tin là con của Đức Chúa Trời.

Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Ðức Chúa Trời. Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha! Chính Ðức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Ðức Chúa Trời. Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Ðức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Ðấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài. Roma 8:14-17

Ấy lại cũng trong Ngài mà anh em sau khi đã nghe đạo chơn thật, là đạo Tin Lành về sự cứu rỗi anh em, ấy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Ðức Thánh Linh là Ðấng Chúa đã hứa, Ðấng ấy làm của cầm về cơ nghiệp chúng ta, cho đến kỳ chuộc lấy những kẻ mà Ngài đã được để khen ngợi sự vinh hiển Ngài. Êphêsô 1:13-14

Anh em chớ làm buồn cho Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc. Êphêsô 4:30

Lại vì anh em là con, nên Ðức Chúa Trời đã sai Thánh Linh của Con Ngài vào lòng chúng ta, kêu rằng: A-ba! Cha! Dường ấy, người không phải là tôi mọi nữa, bèn là con; và nếu ngươi là con, thì cũng là kẻ kế tự bởi ơn của Ðức Chúa Trời. Galati 4:6-7

D.     Được Vào Nhà Của Đức Chúa Trời Qua Đấng Christ.

Vì ấy là nhờ Ngài mà chúng ta cả hai đều được phép đến gần Ðức Chúa Cha, đồng trong một Thánh Linh. Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Ðức Chúa Trời. Êphêsô 2:18-19

Khi có sự tha tội, nhận Đức Thánh Linh được ấn chứng làm con, đã là con thì được ở trong nhà Đức Chúa Trời.

IV.            Kết Quả Cuối Cùng Là Sự Sống Đời Đời.

Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Ðức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng. Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Ðức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Ðức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta. Roma 6:22-23

Ngợi khen Ðức Chúa Trời, là Cha Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta lại sanh, đặng chúng ta nhờ sự Ðức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống, là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho anh em, là kẻ bởi đức tin nhờ quyền phép của Ðức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt! Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu; hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Ðức Chúa Jêsus Christ hiện ra. Ngài là Ðấng anh em không thấy mà yêu mến; dầu bây giờ anh em không thấy Ngài, nhưng tin Ngài, và vui mừng lắm một cách không xiết kể và vinh hiển: nhận được phần thưởng về đức tin anh em, là sự cứu rỗi linh hồn mình. 1Phi-e-rơ 1:3-9

Nếu vì tội lỗi mà hình phạt loài người đời đời mãi mãi trong lửa không tắt, bị giam cầm vĩnh viễn. Thì cũng một lẽ đó vì Đấng Christ mà thưởng cho loài người sự tự do, vinh hiển, hạnh phước, vui vẻ ... đời đời mãi mãi ở bên Đức Chúa Trời vĩnh viễn.

Trong Đấng Christ chúng ta được:

     Thoát khỏi quyền lực của sự tối tăm.

     Sự cứu rỗi, sự tha tội và sự công bình.

     Nhận lãnh Đức Thánh Linh.

     Trở nên con nuôi của Đức Chúa Trời và được sự vinh hiển.

     Trở thành kẻ kế tự cơ nghiệp Đức Chúa Trời.

     Vào ở trong nhà của Đức Chúa Trời.

     Hưởng tất cả các phước lành và Sự sống đời đời.

Như vậy với tin lành của Đấng Christ tốt dường ấy thì chúng ta còn chần chờ chi nữa? Và khi chúng ta đã nhận lãnh tin lành rồi thì chúng ta sẽ bước vào một đời sống mới. Một đời sống mới cho những người công bình.

Như đã trình bày bên trên, nếu chúng ta nhận biết sự khốn khổ của mình, đời sống xấu xa của mình, và có ý thật sự muốn thoát khỏi nó thì tin lành thật sự là của báu đối với chúng ta. Cũng như Đức Chúa Jêsus đã phán:

Nước thiên đàng giống như của báu chôn trong một đám ruộng kia. Một người kia tìm được thì giấu đi, vui mừng mà trở về, bán hết gia tài mình, mua đám ruộng đó. Nước thiên đàng lại giống như một người lái buôn kiếm ngọc châu tốt, khi đã tìm được một hột châu quí giá, thì đi bán hết gia tài mình mà mua hột châu đó. Mathiơ 13:44-46

Ðức Chúa Jêsus bèn phán cùng môn đồ rằng: Ấy vậy, ta nói cùng các ngươi, đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn, cũng đừng vì thân thể mình mà lo đồ mặc. Sự sống trọng hơn đồ ăn, thân thể trọng hơn đồ mặc. Hãy xem con quạ: nó không gieo, không gặt, cũng không có hầm vựa kho tàng chi, mà Ðức Chúa Trời còn nuôi nó; huống chi các ngươi quí hơn chim chóc là dường nào! Có ai trong các ngươi lo lắng mà làm cho đời mình dài thêm một khắc không? Vậy nếu đến việc rất nhỏ các ngươi cũng không có thể được sao các ngươi lo việc khác? Hãy xem hoa huệ mọc lên thể nào: nó chẳng làm khó nhọc, cũng không kéo chỉ; song ta phán cùng các ngươi, dầu vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng không được mặc áo như một hoa nào trong giống ấy. Hỡi kẻ ít đức tin, nếu loài cỏ ngoài đồng là loài nay sống mai bỏ vào lò, mà Ðức Chúa Trời còn cho mặc thể ấy, huống chi là các ngươi! Vậy các ngươi đừng kiếm đồ ăn đồ uống, cũng đừng có lòng lo lắng. Vì mọi sự đó, các dân ngoại ở thế gian vẫn thường tìm, và Cha các ngươi biết các ngươi cần dùng mọi sự đó rồi. Nhưng thà các ngươi hãy tìm kiếm nước Ðức Chúa Trời, rồi mọi sự đó sẽ được cho thêm. Hỡi bầy nhỏ, đừng sợ chi; vì Cha các ngươi đã bằng lòng cho các ngươi nước thiên đàng. Hãy bán gia tài mình mà bố thí. Hãy sắm cho mình túi không hư, và của báu không hề hao kém ở trên trời, là nơi kẻ trộm không đến gần, sâu mọt không làm hư nát. Vì của báu các ngươi ở đâu, thì lòng cũng ở đó. Luca 12:22-34

Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng. Mathiơ 11:28-30

Đến đây nếu thật sự chúng ta muốn thoát khỏi vòng tôi mọi cho tội lỗi thì chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu tiếp phương cách để bước vào sự sống đời đời. Vì những gì được nêu trên mới chỉ là thông tin về sự cứu rỗi. Chúng ta cần phương cách để bước vào đó.

TÓM TẮT:

Ở NGOÀI ĐẤNG CHRIST.

Ở TRONG ĐẤNG CHRIST.

Có tội

Vô tội

Tôi mọi

Làm con Tự do

Vô vọng

Hy vọng

Thù nghịch với Đức Chúa Trời.

Hòa thuận với Đức Chúa Trời.

Mất phước

Hưởng phước

Bất an

Bình an

Hình phạt

Phần thưởng

Lửa đời đời

Sự sống đời đời

 


Tin Lành Đến Với Loài Người Bằng Cách Nào? Bài Số 3

Trong bài học này với sự nhận biết về hiện trạng của loài người tội lỗi và giá trị của Tin Lành cho tia hy vọng của họ. Chúng ta muốn nhận biết làm thể nào tội nhân có thể tiếp cận đến tin tức tốt lành này.

I.            Ý MUỐN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

Khi chúng ta luận đến tin lành và phương cách cứu rỗi loài người thì chúng ta cần biết vững vàng rằng đây không phải là chuyện chúng ta muốn mà được. Ví dụ, một người đang trong tình trạng chết đuối thì việc người ấy mưu cầu sự sống là điều tất yếu nhưng lực bất tòng tâm. Vậy nếu có ai đó trên bờ nhìn thấy tình trạng đó và có muốn cứu hay không và cứu cách nào là quyền của người đó.

Ðức Giê-hô-va phán: Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu. Vả, như mưa và tuyết xuống từ trên trời và không trở lại nữa, mà đượm nhuần đất đai, làm cho sanh ra và kết nụ, đặng có giống cho kẻ gieo, có bánh cho kẻ ăn, thì lời nói của ta cũng vậy, đã ra từ miệng ta, thì chẳng trở về luống nhưng, mà chắc sẽ làm trọn điều ta muốn, thuận lợi công việc ta đã sai khiến nó. Êsai 55:8-11

Ðức Giê-hô-va phán: Vì ta biết ý tưởng ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ý tưởng bình an, không phải tai họa, để cho các ngươi được sự trông cậy trong lúc cuối cùng của mình. Giêrêmi 29:11

Kinh thánh có chép rằng:

Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗihiểu biết lẽ thật. Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời, và chỉ có một Ðấng Trung bảo ở giữa Ðức Chúa Trời và loài người, tức là Ðức Chúa Jêsus Christ, là người; Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là Sứ Đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. 1Timôthê 2:4-7

Tạ ơn Đức Chúa Trời hằng sống vì Ngài có ý muốn cho mọi người được cứu rỗihiểu biết lẽ thật. Hay nói cách khác là Ngài muốn mọi người dùng đức tin nơi Đấng Christ để được cứu rỗi và nhận Đức Thánh Linh để hiểu biết về lẽ thật mà cầm giữ sự cứu rỗi. Đó là hai yếu tố căn bản và duy nhất mang lại sự rỗi trọn vẹn từ Đức Chúa Trời cho tội nhân. Đó là ý muốn xuyên suốt kinh thánh và ngay trước khi sáng thế Đức Chúa Trời đã định ý như vậy.

A.     Yếu tố thứ nhất: được cứu rỗi bởi đức tin trong Đấng Christ.

Đức Chúa Trời muốn cho mọi được cứu theo cách duy nhất là chỉ qua Đấng Christ mà thôi không còn Đấng nào khác. Chỉ duy nhất trong Đấng Christ mới được cứu rỗi. Và tội nhân phải đặt đức tin vào Đấng Christ. Vì có chép rằng:

Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời, và chỉ có một Ðấng Trung bảo ở giữa Ðức Chúa Trời và loài người, tức là Ðức Chúa Jêsus Christ, là người; Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người.

Vả, ấy là nhờ Ngài (Đức Chúa Trời) mà anh em ở trong Ðức Chúa Jêsus Christ, là Ðấng mà Ðức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta; 1Côrinhtô 1:30

Như vậy vì muốn cho mọi người được cứu rỗi trong Đức Chúa Jêsus Christ mà Đức Chúa Trời đã dự bị mọi thứ như rao báo trước về sự đến của Đấng Christ từ khi sáng thế:

Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta (Đấng Christ) vậy. Giăng 5:39

Vì nếu các ngươi tin Môi-se, cũng sẽ tin ta; bởi ấy là về ta mà người đã chép. Giăng 5:46

Còn về Môi-se, người đã trung tín trong cả nhà Chúa, như một kẻ tôi tớ, gọi đến làm chứng về điều ngày sau sẽ được rao giảng. Hơbơrơ 3:5

Ðức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói! Há chẳng phải Ðấng Christ chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình sao? Ðoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. Luca 24:25-27

Ðoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm. Luca 24:44

Cả kinh thánh ở đây chỉ về cựu ước, tân ước chính là lời của Đấng Christ.

“Vậy, sau khi Ngài được từ kẻ chết sống lại rồi, môn đồ gẫm Ngài có nói lời đó, thì tin Kinh Thánhlời Ðức Chúa Jêsus đã phán”. Giăng 2:22

Như vậy từ Sáng Thế Ký (sách đầu tiên của Môi-se) cho đến Malachi (Sách tiên tri cuối cùng) được ghi chép lại chỉ với một mục đích là làm chứng về Đấng Christ.

Đến đúng thời điểm Đức Chúa Trời đã sai Đấng Christ xuống thế gian để làm ra sự cứu rỗi cho loài người.

Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời. Vả, Ðức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu. Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Ðức Chúa Trời. Giăng 3:16-18

Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu. Vì ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm theo ý ta, nhưng làm theo ý Ðấng đã sai ta đến. Vả, ý muốn của Ðấng đã sai ta đến là hễ sự gì Ngài đã ban cho ta, thì ta chớ làm mất, nhưng ta phải làm cho sống lại nơi ngày sau rốt. Ðây là ý muốn của Cha ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt. Giăng 6:37-40

Cha yêu Con, và đã giao hết mọi vật trong tay Con. Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Ðức Chúa Trời vẫn ở trên người đó. Giăng 3:35-36

Trong khi để làm cho mọi người biết được chính xác Đức Chúa Jêsus là người mà Đức Chúa Trời đã sai làm Christ và Chúa, là Con Đức Chúa Trời để thi hành ý muốn của Ngài cho mọi người được cứu rỗi trong Đấng Christ, thì Đức Chúa Trời dùng quyền năng và phép lạ để chứng minh Jêsus là Christ.

Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời nầy: Ðức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét, tức là Người mà Ðức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ ở giữa các ngươi, để làm chứng cho Người trong vòng các ngươi, như chính các ngươi đều biết. Công vụ 2:22

Ðức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy! Ðức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy. Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Ðức Chúa Jêsus là Ðấng Christ, tức là Con Ðức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống. Giăng 20:29-31

Và bây giờ sự cứu rỗi đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ:

vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Ðức Chúa Jêsus Christ, là Ðấng Ðức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Ðấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia, trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ ra sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Ðức Chúa Jêsus. Roma 3:23-26

B.     Yếu tố thứ hai: Đức Thánh Linh Trong Sự Phân Phát Tin Lành.

Để cho loài người hiểu biết lẽ thật nên Đức Chúa Trời hứa ban Thần Lẽ Thật cho những người tin Con một của Ngài là các sứ đồ. Ai không tin Đấng Christ không được nhận Đức Thánh Linh.

Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Ðấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sự ở trong các ngươi. Giăng 14:16-17

Nhưng Ðấng Yên ủi, tức là Ðức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân danh ta sai xuống, Ðấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều ta đã phán cùng các ngươi. Giăng 14:26

Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Ðức Chúa Trời. Roma 8:14

1.      Đức Thánh Linh được ban cho Các Sứ Đồ để

  • Dạy dỗ mọi sự về Đấng Christ.
  • Sau khi đã dạy xong thì nhắc lại mọi sự về Đấng Christ.
  • Giúp cho hiểu biết lẽ thật và vâng giữ lẽ thật.

Khi Đức Thánh Linh giáng xuống trên con cái Đức Chúa Trời là điều ích cho công việc rao giảng tin lành vì Đức Thánh Linh làm cho thế gian bị cáo trách về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét.

Về tội lỗi, vì họ không tin ta; về sự công bình, vì ta đi đến cùng Cha và các ngươi chẳng thấy ta nữa; về sự phán xét, vì vua chúa thế gian nầy đã bị đoán xét. Giăng 16:9-11

  • Không tin đến con Đức Chúa Trời là tội.

Ngài phán rằng: Các ngươi bởi dưới mà có; còn ta bởi trên mà có. Các ngươi thuộc về thế gian nầy; còn ta không thuộc về thế gian nầy. Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Ðấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi. Giăng 8:23-24

  • Sự công bình được làm trọn khi Đấng Christ về cùng cha. Tức sự cứu rỗi trọn vẹn.

Vậy thì, Ðức Chúa Trời đã bỏ qua các đời ngu muội đó, mà nay biểu hết thảy các người trong mọi nơi đều phải ăn năn, vì Ngài đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, bởi Người Ngài đã lập, và Ðức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại, để làm chứng chắc về điều đó cho thiên hạ. Công vụ 17:30-31

  • Về sự phán xét Đấng Christ đã thắng được Chúa thế gian tức là ma quỉ.

Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người. Sáng 3:15

Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! Giăng 16:33

Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ; vì ma quỉ phạm tội từ lúc ban đầu. Vả, Con Ðức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỉ. 1Giăng 3:8

Vậy thì, vì con cái có phần về huyết và thịt, nên chính Ðức Chúa Jêsus cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ, Hơbơrơ 2:14

Việc hiểu biết lẽ thật của Đức Chúa Trời là việc quá sức đối với Các Sứ Đồ, nên khi họ được tha tội đi vào nhà Đức Chúa Trời thì cần có Đức Thánh Linh để dẫn dắt, dạy dỗ và nhắc lại mọi lời của Đấng Christ để cầm giữ sự cứu rỗi.

Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi. Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi. Mọi sự Cha có, điều là của ta; nên ta nói rằng Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi vậy. Giăng 16:12-15

  • Hãy ghi nhớ chắc chắn rằng:
a)      Đức Thánh Linh làm sáng danh Đấng Christ vì
b)      Đức Thánh Linh lấy điều thuộc về Đấng Christ mà rao bảo cho con cái Đức Chúa Trời.
c)      Đức Thánh Linh không nói khác hơn những gì mà Ngài đã nhận từ Đấng Christ.

Đức Chúa Trời Đấng biết hết mọi sự là Đấng toàn năng và hai yếu tố trên là ý muốn của Ngài dùng để cứu chuộc loài người. Chúng ta muốn được cứu rỗi chăng hãy đến cùng Đấng Christ sẽ được rỗi và nhận Đức Thánh Linh để hiểu biết lẽ thật.

II.            Chức Vụ Sứ Đồ Được Lập Vì Ý Muốn Đức Chúa Trời.

Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗihiểu biết lẽ thật. Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời, và chỉ có một Ðấng Trung bảo ở giữa Ðức Chúa Trời và loài người, tức là Ðức Chúa Jêsus Christ, là người; Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là Sứ Đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. 1Timôthê 2:4-7

Vì cớ ý muốn cho mọi người được cứu rỗi trong Đấng Christ và hiểu biết lẽ thật trong Đức Thánh Linh. Mà Đức Chúa Trời đã lập chức vụ Sứ Đồ để dạy mọi người về đức tin và về lẽ thật.

Chức vụ này bởi Đức Chúa Trời mà ra và bởi đích thân Đức Chúa Jêsus Christ cùng Đức Thánh Linh chỉ định. Tổng cộng có mười ba vị. Mác 3:13-19. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt rời bỏ vị trí Sứ Đồ, Ma-thia được chọn thay thế vị trí đó. Công vụ 1:21-26. Sứ Đồ cho dân ngoại được chỉ định bởi Đức Chúa Jêsus Christ. Sứ Đồ Phao-lô (Công-vụ Các Sứ Đồ 26:15-18).

Ngoài 13 vị được nêu trên không còn một người nào khác làm chức Sứ Đồ. Họ là những môn đồ Đấng Christ đầu tiên (trừ Phao-lô) trải nghiệm sự ngọt ngào của sự cứu rỗi trong Đấng Christ và sự hiểu biết lẽ thật. Họ là những người làm chứng trung tín của Đấng Christ và được biệt riêng ra để đem ý muốn của Đức Chúa Trời đến với tội nhân. Như vậy công việc của Các Sứ Đồ là dạy mọi người về đức tinvề lẽ thật.

Chúng ta cần biết rằng: loài người bị ngăn cách với Đức Chúa Trời vì cớ tội lỗi. Không thể đến gần Đức Chúa Trời được lại cũng không có phương cách gì từ loài người loại bỏ được sự ngăn trở này. Vì sự ngăn cách này mà mọi người bị rủa sả, mất phước, vô vọng, lầm lạc, bại hoại ... và cuối cùng là sự xa cách vĩnh viễn mặt Đức Chúa Trời trong hồ lửa chẳng hề tắt.Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian nên muốn cho loài người được cứu trong Đấng Christ. Nên mọi người muốn được hòa thuận với Đức Chúa Trời thì phải đi vào trong Đấng Christ thì mới có hy vọng sống.

Vì ý muốn tốt lành đó Đức Chúa Trời đã lập chức Sứ Đồ như chức vụ khâm sai hay người đại diện cho Đức Chúa Trời để đem tin lành của Đấng Christ đến với loài người. Đây là trách nhiệm rất lớn mà Các Sứ Đồ phải mang. Đấng Christ cũng tương tự như trái cây sự sống vậy và Các Sứ Đồ phải đem trái cây đó đến cho thế gian, để mọi người nhờ trái cây đó mà được sống. Một khi Đức Chúa Trời đã lập thì phải qua Các Sứ Đồ loài người mới có Sự Cứu Rỗi và Hiểu Biết Lẽ Thật. Chúng ta biết Đấng Christ là cánh cổng vào thiên đàng hay sự sống đời đời nhưng Các Sứ Đồ lại là chiềc khóa của cánh cổng đó.

Ta là cái cửa: nếu ai bởi ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi; họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ. Giăng 10:9

Ta sẽ giao chìa khóa nước thiên đàng cho ngươi; hễ điều gì mà ngươi buộc dưới đất, thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà ngươi mở dưới đất, thì cũng sẽ mở ở trên trời. Mathiơ 16:19

Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ điều gì mà các ngươi buộc ở dưới đất thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà các ngươi mở ở dưới đất thì cũng sẽ mở ở trên trời. Mathiơ 18:18

Con đã truyền lời Cha cho họ, và thế gian ghen ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian vậy. Con chẳng cầu Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác. Họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật. Như Cha đã sai Con trong thế gian, thì Con cũng sai họ trong thế gian. Con vì họ tự làm nên thánh, hầu cho họ cũng nhờ lẽ thật mà được nên thánh vậy. Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến. Giăng 17:14-21

Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Bình an cho các ngươi! Cha đã sai ta thể nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy. Khi Ngài phán điều đó rồi, thì hà hơi trên môn đồ mà rằng: Hãy nhận lãnh Ðức Thánh Linh. Kẻ nào mà các ngươi tha tội cho, thì tội sẽ được tha; còn kẻ nào các ngươi cầm tội lại, thì sẽ bị cầm cho kẻ đó. Giăng 20:21-23

Chiềc khóa mà Các Sứ Đồ cầm trong tay đó là Tin Lành Của Đấng Christ. Vì những gì mà Các Sứ Đồ dạy về Đức Tin và Lẽ Thật chính là sự cầm tội và tha tội là mùi của sự sống và sự chết.

Song tạ ơn Ðức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Ðấng Christ luôn luôn, và bởi chúng tôi, Ngài rải mùi thơm về sự nhận biết Ngài khắp chốn! Vì chúng tôi ở trước mặt Ðức Chúa Trời là mùi thơm của Ðấng Christ, ở giữa kẻ được cứu, và ở giữa kẻ bị hư mất; cho kẻ nầy, mùi của sự chết làm cho chết; cho kẻ kia, mùi của sự sống làm cho sống. Ai xứng đáng cho những sự nầy? Vả, chúng tôi chẳng giả mạo lời của Ðức Chúa Trời như nhiều kẻ khác; nhưng chúng tôi lấy lòng chân thật, theo như đạo từ Ðức Chúa Trời đến thể nào, thì giảng ra thể ấy trước mặt Ðức Chúa Trời, trong Ðấng Christ. 2Côrinhtô 2:14-17

Vậy nên, chúng tôi nhờ sự thương xót đã ban cho, mà được chức vụ nầy, thì chúng tôi chẳng ngã lòng; nhưng chúng tôi từ bỏ mọi điều hổ thẹn giấu kín. Chúng tôi chẳng theo sự dối gạt, và chẳng giả mạo lời Ðức Chúa Trời, nhưng trước mặt Ðức Chúa Trời chúng tôi tỏ bày lẽ thật, khiến lương tâm mọi người cho chúng tôi là đáng chuộng. Nếu Tin Lành của chúng tôi còn che khuất, là chỉ che khuất cho những kẻ hư mất, cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Ðấng Christ, là ảnh tượng của Ðức Chúa Trời. Vả, chúng tôi chẳng rao giảng chính mình chúng tôi, nhưng rao giảng Ðức Chúa Jêsus Christ, tức là Chúa; và vì tình yêu mến Ðức Chúa Jêsus mà chúng tôi xưng mình là tôi tớ của anh em. Vì Ðức Chúa Trời, là Ðấng có phán: Sự sáng phải soi từ trong sự tối tăm! đã làm cho sự sáng Ngài chói lòa trong lòng chúng tôi, đặng sự thông biết về vinh hiển Ðức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Ðức Chúa Jêsus Christ. Nhưng chúng tôi đựng của quí nầy trong chậu bằng đất, hầu cho tỏ quyền phép lớn dường ấy là bởi Ðức Chúa Trời mà ra, chớ chẳng phải bởi chúng tôi. 2Côrinhtô 4:1-7

Khi nói đến Tin Lành (của) Đức Chúa Trời là nói đến nguồn gốc từ Đức Chúa Trời mà đến.

Khi nói đến Tin Lành (của) Đấng Christ là nói đến sự trọn vẹn tuyệt đối về sự cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật mà ý muốn Đức Chúa Trời được trọn trong Đấng Christ.

Khi nói đến Tin Lành (của) Các Sứ Đồ là nói đến ý muốn (của) Đức Chúa Trời trong Đấng Christ mà chức vụ Sứ Đồ được lập để đem (dạy, rao, công bố, giảng, làm chứng) Tin Lành đến cho tội nhân.

Và việc biết được Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ rất quan trọng nó là một ơn phước từ Đức Chúa Trời. Vì xác thịt không thể biết được. Chỉ khi biết được Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ sẽ biết được tin lành của Ngài. Còn nếu chỉ biết Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Jêsus thì KHÔNG mang đến sự cứu rỗi. Nhưng đây chưa phải là thời điểm để công bố tin lành về danh xưng của Ngài. Vì Ngài cấm Các Sứ Đồ nói ra Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng Christ.Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì quyền phép của Ðức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Ðức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin. Roma 1:16-17

III.            Thời Điểm Tin Lành Đấng Christ Được Phép Công Bố.

Khi tin lành được trọn thì chính là lúc được phép công bố Tin Lành và từ đó mọi người phải tuân theo những gì được công bố vì đó là đức tin và lẽ thật.

A.     Về danh hiệu (Đấng) Christ.

Ngài phán rằng: Còn các người thì xưng ta là ai? Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Chúa là Ðấng Christ, con Ðức Chúa Trời hằng sống. Bấy giờ, Ðức Chúa Jêsus phán cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu, bèn là Cha ta ở trên trời vậy. Còn ta, ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó. Ta sẽ giao chìa khóa nước thiên đàng cho ngươi; hễ điều gì mà ngươi buộc dưới đất, thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà ngươi mở dưới đất, thì cũng sẽ mở ở trên trời. Ðoạn, Ngài cấm môn đồ đừng nói cho ai biết rằng Ngài, Ðức Chúa Jêsus, là Ðấng Christ. Từ đó, Ðức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại. Mathiơ 16:15-21

Nếu chúng ta đọc kinh thánh và để ý thì sẽ thấy mọi việc Đức Chúa Jêsus làm phép lạ, chữa bệnh, đuổi quỉ ... là quyền phép bởi Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời xức dầu cho Đức Chúa Jêsus làm Christ và các việc đó làm chứng cho mọi người tin rằng người tên Jêsus là con Đức Chúa Trời tức là Christ. Nhưng đến thời điểm này thì dân chúng thấy các phép lạ mọi việc nhưng vẫn chưa tin Jêsus là Christ là con Đức Chúa Trời. Còn về phần Các Sứ Đồ thì họ tin Ngài là Christ bởi vì họ tin vào chứng của Đức Chúa Trời làm cho con Ngài nên Phi-e-rơ mới gọi là được phước.

B.     Về việc làm của Đấng Christ.

Khi Các Sứ Đồ tin vào danh hiệu Christ thì Ngài bắt đầu bày tỏ công việc của Đấng Christ cũng như lời hứa thiết lập Hội Thánh Đấng Christ. Vậy việc làm của Đấng Christ là:

  • Phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại.
  • Lập Hội Thánh Đấng Christ. Tức là lập đền thờ Đức Chúa Trời, nước Đức Chúa Trời và nước Đấng Christ là một, nhà Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ đi sâu vào phần này ở mục TRONG ĐẤNG CHRIST.

C.     Về lời của Đấng Christ.

Khỏi sáu ngày, Ðức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng là em Gia-cơ, cùng Ngài đi tẻ lên núi cao. Ngài biến hóa trước mặt các ngươi ấy mặt Ngài sáng lòa như mặt trời, áo Ngài trắng như ánh sáng. Nầy, có Môi-se và Ê-li hiện đến, nói chuyện cùng Ngài. Phi-e-rơ bèn cất tiếng thưa cùng Ðức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, chúng ta ở lại đây thì tốt lắm; ví bằng đẹp ý Chúa, thì tôi sẽ đóng ba trại tại đây, một cái cho Chúa, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li. Ðang khi người còn nói, bỗng chúc có một đám mây sáng rực che phủ những người ở đó; và có tiếng từ trong mây phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường; hãy nghe lời Con đó! Mathiơ 17:1-5

Ðang khi Ðức Chúa Jêsus và môn đồ ở trên núi xuống, thì Ngài ra lịnh cấm rằng: Sự các ngươi đã thấy chớ thuật lại cùng ai, cho đến khi Con người từ kẻ chết sống lại. Mathiơ 17:9

Khi Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem tại sông Giô-đanh thì Đức Chúa Trời có nói về Đức Chúa Jêsus rằng:

Vừa khi chịu phép báp-tem rồi, Ðức Chúa Jêsus ra khỏi nước; bỗng chúc các từng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Ðức Chúa Trời ngự xuống như chim bồ câu, đậu trên Ngài. Tức thì có tiếng từ trên trời phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng. Mathiơ 3:16-17

Chúng ta thấy rằng từ lúc Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem rồi thì Ngài đi khắp nơi làm mọi việc quyền phép để chứng thực rằng Ngài là Đấng Christ là con Đức Chúa Trời.

Khi Các Sứ Đồ đã tin danh Ngài. Thì mới biết được việc làm, sau khi biết được việc làm rồi. Thì bước tới sự vâng phục lời của Đấng Christ. Vì đến lúc này thì Đức Chúa Trời mới tỏ cho loài người biết là phải nghe chính con một của Ngài. Về sự vâng phục lời của Đấng Christ thì Đức Chúa Jêsus lại cấm Các Sứ Đồ công bố ra nhưng Ngài lại cho Các Sứ Đồ biết thời điểm được công là chớ thuật lại cùng ai, cho đến khi Con người từ kẻ chết sống lại.

D.     Về Đức Thánh Linh.

1.      Khi Đức Chúa Trời đem con đầu lòng của Ngài vào thế gian thì chính Đức Thánh Linh là Đấng làm cho Đấng Christ được sanh ra.

Ðến tháng thứ sáu, Ðức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê, tới cùng một người nữ đồng trinh tên là Ma-ri, đã hứa gả cho một người nam tên là Giô-sép, về dòng vua Ða-vít. Thiên sứ vào chỗ người nữ ở, nói rằng: Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi. Ma-ri nghe nói thì bối rối, tự hỏi rằng lời chào ấy có nghĩa gì. Thiên-sứ bèn nói rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Ðức Chúa Trời. Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jêsus. Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Ðấng Rất Cao; và Chúa, là Ðức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Ða-vít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng. Ma-ri bèn thưa rằng: Tôi chẳng hề nhận biết người nam nào, thì làm sao có được sự đó? Thiên sứ truyền rằng: Ðức Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, và quyền phép Ðấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình, cho nên con thánh sanh ra, phải xưng là Con Ðức Chúa Trời. Luca 1:26-35

2.      Khi phán về nước Đức Chúa Trời hay nước Đấng Christ thì Đức Chúa Jêsus nói rằng loài người phải sanh lại mới được thấy nước Đức Chúa Trời. Và Đức Thánh Linh chính là Đấng làm cho người tội nhân được tái sanh. Trở nên con cái Đức Chúa Trời.

Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Ðức Chúa Trời vậy. Giăng 1:12-13

Ðức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Ðức Chúa Trời. Ni-cô-đem thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nướcThánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Ðức Chúa Trời. Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. Giăng 3:3-6

3.      Đức Thánh Linh giáng lâm là thời điểm mà nước Đức Chúa Trời được hiện ra, cũng như Hội Thánh Đấng Christ được thành lập.

Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong những người đứng đây, có mấy kẻ chẳng chết trước khi chưa thấy nước Ðức Chúa Trời lấy quyền phép mà đến. Mac 9:1

Trong lúc Đức Chúa Jêsus Christ sống lại thì Ngài hiện ra cùng Các Sứ Đồ phán bảo về nước Đức Chúa Trời.

Chúng ta từng chứng kiến về mọi điều Ngài đã làm trong xứ người Giu-đa và tại thành Giê-ru-sa-lem. Chúng đã treo Ngài trên cây gỗ mà giết đi. Nhưng ngày thứ ba, Ðức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, lại cho Ngài được tỏ ra, chẳng hiện ra với cả dân chúng, nhưng với những kẻ làm chứng mà Ðức Chúa Trời đã chọn trước, tức là với chúng ta, là kẻ đã ăn uống cùng Ngài, sau khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại. Lại Ngài đã biểu chúng ta khá giảng dạy cho dân chúng, và chứng quyết chính Ngài là Ðấng Ðức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết. Hết thảy các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài. Công vụ 10:39-43

Khi hiện ra cùng Các Sứ Đồ Ngài cũng truyền lịnh và mở trí cho họ. Đây cũng là lúc Ngài trao chìa khóa nước thiên đàng cho họ. Các Sứ Đồ phải đợi trong thành Jerusalem để mặc lấy quyền phép từ trên cao.

Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Bình an cho các ngươi! Cha đã sai ta thể nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy. Khi Ngài phán điều đó rồi, thì hà hơi trên môn đồ mà rằng: Hãy nhận lãnh Ðức Thánh Linh. Kẻ nào mà các ngươi tha tội cho, thì tội sẽ được tha; còn kẻ nào các ngươi cầm tội lại, thì sẽ bị cầm cho kẻ đó. Giăng 20:21-23

Bấy giờ Ngài mở trí cho môn đồ được hiểu Kinh Thánh. Ngài phán: Có lời chép rằng Ðấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại, và người ta sẽ nhân danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem. Các ngươi làm chứng về mọi việc đó; ta đây sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa, còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao. Luca 24:45-49

4.      Thời điểm để Đức Thánh Linh được giáng xuống trên Các Sứ Đồ là khi Đức Chúa Jêsus Christ được cất về trời ngự trên ngôi vinh hiển thì lúc đó Đức Thánh Linh mới được ban xuống.

Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy. Ngài phán điều đó chỉ về Ðức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ Ðức Thánh Linh chưa ban xuống, vì Ðức Chúa Jêsus chưa được vinh hiển. Giăng 7:38-39

cho đến ngày Ngài được cất lên trời, sau khi Ngài cậy Ðức Thánh Linh mà răn dạy Các Sứ Đồ Ngài đã chọn. Sau khi chịu đau đớn rồi, thì trước mặt Các Sứ Đồ, Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với Các Sứ Đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Ðức Chúa Trời. Lúc ở với Các Sứ Đồ, Ngài dặn rằng đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở đó chờ điều Cha đã hứa, là điều các ngươi đã nghe ta nói. Công vụ 1:2-4

Nhưng khi Ðức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất. Công vụ 1:8

5.      Điều Đức Chúa Jêsus Christ hứa được trọn vì trong ngày lễ ngũ tuần Các Sứ Đồ đã nhận được Đức Thánh Linh.

Ðến ngày lễ Ngũ Tuần, môn đồ nhóm họp tại một chỗ. Thình lình, có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi. Các môn đồ thấy lưỡi rời rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa hiện ra, đậu trên mỗi người trong bọn mình. Hết thảy đều được đầy dẫy Ðức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác, theo như Ðức Thánh Linh cho mình nói. Vả, bấy giờ có người Giu-đa, kẻ mộ đạo, từ các dân thiên hạ đến, ở tại thành Giê-ru-sa-lem. Lúc tiếng ấy vang ra, dân chúng chạy đến, ai nấy đều sững sờ vì mỗi người đều nghe các môn đồ nói tiếng xứ mình. Chúng đều sợ hãi và lấy làm lạ mà rằng: Hết thảy người nói đó, há chẳng phải là người Ga-li-lê sao? Vậy thì sao chúng ta nghe ai nầy đều nói tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ? Nào người Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít, kẻ ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, Giu-đê, Cáp-ba-đốc, Bông, A-si, Phi-ri-gi, Bam-phi-ly, Ê-díp-tô, đất Li-by gần Sy-ren, nào kẻ từ Rô-ma đến, cả người Giu-đa hoặc người mới theo đạo Giu-đa, người Cơ-rết và A rạp nữa, chúng ta đều nghe họ lấy tiếng chúng ta mà nói những sự cao trọng của Ðức Chúa Trời. Ai ai đều sợ hãi, không biết nghĩ làm sao, bèn nói với nhau rằng: Việc nầy là nghĩa làm sao? Nhưng có kẻ lại nhạo báng rằng: Họ say rượu mới đó. Bấy giờ, Phi-e-rơ đứng ra cùng mười một Sứ Đồ, cất tiếng nói với dân chúng rằng: Hỡi người Giu-đa, và mọi người ở tại thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết rõ điều nầy, và lắng tai nghe lời ta. Những người nầy chẳng phải say như các ngươi ngờ đâu, vì bây giờ mới là giờ thứ ba ban ngày. Nhưng ấy là điều đấng tiên tri Giô-ên đã nói tiên tri rằng: Ðức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác-thịt; Con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, Bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, Và các người già cả sẽ có chiêm bao, Phải, trong những ngày đó, ta sẽ đổ Thần ta khắp trên các đầy tớ trai và gái ta, Chúng nó đều nói lời tiên tri; Ta lại sẽ tỏ ra sự lạ lùng ở trên trời, Và dấu lạ ở dưới đất; Tức là máu, lửa, và luồng khói; Mặt trời sẽ biến nên tối tăm, Mặt trăng hóa ra máu, Trước ngày lớn và vinh hiển của Chúa chưa đến; Công vụ 2:1-20

6.      Khi Đức Thánh Linh đã giáng trên Các Sứ Đồ thì lời tiên tri trong cựu ước được ứng nghiệm cùng với lời của Đức Chúa Jêsus Christ đã hứa.

  • Khi Đức Thánh Linh được đổ ra, đánh dấu loài người đang ở thời kỳ sau rốt.
  • Đức Thánh Linh được giáng xuống khắp mọi xác thịt mà là đàn ông đàn bà tức loài người. Những không phải toàn thể loài người được nhận chỉ có đầy tớ (trai, gái) của Đức Chúa Trời mới được nhận tức những người vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời.
  • Khi Đức Thánh Linh được đổ ra sẽ nói lời tiên tri, nhưng không phải là người đó muốn nói gì thì nói mà là nói điều Đức Thánh Linh cho nói(theo như Ðức Chúa Trời cho mình nói). Như vậy nói bởi Đức Thánh Linh.
  • Tiên tri là gì?

Là người nhận lời Đức Chúa Trời và truyền lại lời đó. Họ không nói theo ý mình nhưng nói theo ý Đức Chúa Trời.

Như vậy với các câu kinh thánh nói trên chúng ta thấy rằng thời điểm mà Tin Lành Đấng Christ được giảng ra là khi Đấng Christ được vinh hiển và Đức Thánh Linh được ban xuống thế gian này. Vì khi Đức Thánh Linh đến thì sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét. Và hễ ai tin vào Tin Lành thì người đó sẽ tái sanh bởi Đức Thánh Linh và sẽ thấy nước Đức Chúa Trời.

IV.            Đức Tin Và Lẽ Thật.

Ðức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. Mathiơ 28:18

Ngài phán cùng Các Sứ Đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. (Mac 16:15) – ĐI LÀM CHỨNG VỀ SỰ CHẾT – SỰ CHÔN VÀ SỰ SỐNG LẠI CỦA ĐẤNG CHRIST

Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Ðức Cha, Ðức Con, và Ðức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, Mathiơ 28:19

Ai tin và chịu phép báp-tem, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt. (Mac 16:16) – ĐÂY LÀ ĐỨC TIN

dạy họ giữ hết cả mọi điềuta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế. (Mathiơ 28:20) – ĐÂY LÀ LẼ THẬT.

Khi chương trình của Đức Chúa Trời đã làm trọn trong Đấng Christ thì chính Các Sứ Đồ là người đem sự trọn vẹn đó đến cho loài người. Và công việc đầu tiên của họ làm là rao giảng tin lành Đấng Christ về đức tin trong Đấng Christ để loài người được cứu bởi đức tin. Công việc thứ hai là Các Sứ Đồ phải dạy về lẽ thật của Đấng Christ cho những người đã tin để họ cầm giữ sự cứu rỗi trong Đấng Christ.

Hãy xem thêm những câu kinh thánh nói về hai điều đó.

Hỡi anh em, tôi nhắc lại cho anh em Tin Lành mà tôi đã rao giảnganh em đã nhận lấy, cùng đứng vững vàng trong đạo ấy, và nhờ đạo ấy, anh em được cứu rỗi, miễn là anh em giữ lấy y như tôi đã giảng cho; bằng không, thì anh em dầu có tin cũng vô ích. Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Ðấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh; 1Côrinhtô 15:1-4

Ấy vậy, dầu tôi, dầu các người khác, đó là điều chúng tôi giảng dạy, và là điều anh em đã tin. 1Côrinhtô 15:11

Như trên cho thấy rằng Các Sứ Đồ rao ra những gì thì người nghe phải nhận hết những điều được rao, do đó việc tin nhận và chịu báp-tem để vào trong Đấng Christ là yếu tố đức tin và yếu tố lẽ thật là việc đứng vững trong Tin Lành Đấng Christ hay giữ lấy lẽ thật về Đấng Christ là điều tất yếu, bằng không thì dù có đức tin cũng vô ích. Vậy mọi người phải làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời để được rỗi.

Như vậy chúng ta đã biết làm thể nào Tin Lành Đấng Christ đến với chúng ta. Đó là qua Các Sứ Đồ mà ý muốn của Đức Chúa Trời được bày tỏ bởi sự giảng dạy, rao báo, làm chứng về Đấng Christ.

Giờ chúng ta cùng tìm hiểu làm thế nào chúng ta bước và trong Đấng Christ hay ở trong Đấng Christ để được hưởng tất cả sự ban cho của Đức Chúa Trời.

 


TIẾP NHẬN SỰ CỨU RỖI BẰNG CÁCH NÀO? Bài Số 4

Trong bài học này chúng ta sẽ nhận biết khi Tin Lành đã sẵn sàng và được rao ra bởi Các Sứ Đồ và Đức Thánh Linh thì tội nhân sẽ phải nghe và vâng phục Tin Lành như thế nào để được cứu.

I.            Thông qua người rao giảng tin lành.

ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu.

Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được?

Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin?

Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao?

Lại nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào?

Như có chép rằng: Những bàn chân kẻ rao truyền tin Lành là tốt đẹp biết bao! Nhưng chẳng phải mọi người đều nghe theo tin lành đâu; vì Ê-sai có nói rằng: Lạy Chúa, ai tin lời chúng tôi rao giảng?

Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Ðấng Christ được rao giảng. Roma 10:13-17

Như trên cho chúng ta thấy rằng một người có thể tin Đấng Christ chỉ qua một cách duy nhất là.

Muốn được cứu thì phải kêu cầu danh Chúa, mà muốn kêu cầu thì phải tin vào lời của Đấng Christ, mà muốn tin lời Đấng Christ thì phải nghe lời của Đấng Christ, mà muốn nghe được lời của Đấng Christ thì phải có người chịu sai từ Đấng sai rao giảng về Đấng Christ.

Như vậy có hai phần mà chúng ta cần nắm vững.

  • Đấng chân thật sai người chịu sai rao giảng đạo chân thật. PHẦN NÀY THUỘC VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI.
  • Người nghe đạo chân thật sinh ra đức tin chân thật mà được cứu bởi đức tin. PHẦN NÀY THUỘC VỀ TỘI NHÂN.

II.            Phần thuộc về đức chúa trời.

Chúng ta biết Đức Chúa Trời muốn cho mọi người được cứu rỗi trong Đấng Christ nên Ngài đã sai Các Sứ Đồ rao giảng Tin Lành Đấng Christ.

Phải biết rằng có hai yếu tố mà chúng ta cần nắm vững.

  • Ý muốn cứu loài người không phải là ý tưởng của Các Sứ Đồ. Mà là ý của Đức Chúa Trời. Cho nên Đức Chúa Trời là Đấng sai.
  • Vì ý muốn của Đức Chúa Trời mà Ngài lập chức Sứ Đồ để sai họ làm trọn ý muốn của Ngài. Cho nên Các Sứ Đồ là người chịu sai và được sai.

Có ba Đấng chân thật trong một Đức Chúa Trời, có phép sai, gọi, lịnh, bảo, khiến ... vũ trụ vạn vật này hay nằm trong thế chủ động. Đó là ĐỨC CHÚA CHA, ĐỨC CHÚA CON và ĐỨC THÁNH LINH.

1.      Đức Chúa Trời sai, lịnh, bảo, gọi, khiến Các Sứ Đồ.

Phao-lô, làm Sứ Đồ, chẳng phải bởi loài người, cũng không nhờ một người nào, bèn là bởi Ðức Chúa Jêsus Christ và Ðức Chúa Trời, tức là Cha, Ðấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, Galati 1:1

2.      Đức Chúa Jêsus Christ sai, lịnh, bảo, gọi, khiến Các Sứ Đồ.

Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Bình an cho các ngươi! Cha đã sai ta thể nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy. Giăng 20:21

3.      Đức Thánh Linh sai, lịnh, bảo, gọi, khiến Các Sứ Đồ.

Vậy, Sau-lơ và Ba-na-ba đã chịu Ðức Thánh Linh sai đi, bèn xuống thành Sê-lơ-xi, rồi từ đó đi thuyền đến đảo Chíp-rơ. Công vụ 13:4

Và thẩm quyền sai phái (ra lệnh, nói, phán, dạy, bảo, khiến... cầm quyền) hiện tại thuộc về Đấng duy nhất. Là Đấng Christ.

     Đức Chúa Trời sai phái qua Đấng Christ.

... Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường; hãy nghe lời Con đó! Mathiơ 17:5

Môi-se có nói rằng: Chúa là Ðức Chúa Trời chúng ta sẽ dấy lên trong anh em các ngươi một Ðấng tiên tri như ta; các ngươi phải nghe theo mọi điều Ngài sẽ phán dặn. Hễ ai không nghe Ðấng tiên tri ấy sẽ bị truất khỏi dân sự. Hết thảy các tiên tri đã phán, từ Sa-mu-ên và các đấng nối theo người, cũng đều có rao truyền những ngày nầy nữa. Công vụ 3:22-24

Ðời xưa, Ðức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài,.. Hơbơrơ 1:1-2

     Đấng Christ có trọn quyền sai phái.

Ðức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. Mathiơ 28:18

     Đức Thánh Linh sai phái theo ý Đấng Christ.

Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi. Mọi sự Cha có, điều là của ta; nên ta nói rằng Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi vậy. Giăng 16:13-15

Như vậy có Đấng saingười chịu sai hay được sai. Đấng sai muốn ý của mình được thi hành. Người chịu sai vâng theo ý Đấng sai mình mà làm.

Một hình ảnh khác là Đức Chúa Trời là chủ và Các Sứ Đồ là tôi tớ. Chủ thì ra lệnh, còn tôi tớ thì thi hành mệnh lệnh. Có thể nói rằng Các Sứ Đồ là đồ dùng trong tay Đức Chúa Trời và Ngài muốn khiến làm gì thì đồ dùng làm bởi cớ Đấng sai khiến. Ví dụ từ lời Đức Chúa Trời cho trường hợp này là:

... vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó. 2 Phi-e-rơ 2:19

Anh em há chẳng biết rằng nếu anh em đã nộp mình làm tôi mọi đặng vâng phục kẻ nào, thì là tôi mọi của kẻ mình vâng phục, hoặc của tội lỗi đến sự chết, hoặc của sự vâng phục để được nên công bình hay sao? Roma 6:16

Hãy ghi nhớ rằng trong thế gian này luôn tồn tại 3 ý muốn.

  • Ý muốn của Đức Chúa Trời.
  • Ý muốn của ma quỉ
  • Ý muốn tư dục (riêng) của con người. Trong đó có ý mình và ý người khác.

Vậy nếu chúng ta chọn làm theo ý muốn nào thì làm tôi mọi cho ý muốn đó. Vậy thì người được sai rao giảng tin lành là Các Sứ Đồ.

III.            Các mạng lệnh của Tin Lành

A.     Nghe tin lành.

Chúng ta đã nắm được ý muốn của Đức Chúa Trời và biết được người chịu sai là Các Sứ Đồ, bây giờ chúng ta sẽ nghe Các Sứ Đồ rao giảng tin lành. Xem làm cách nào tội nhân được xưng công bình trong Đấng Christ.

Lời giảng đầu tiên của Sứ Đồ Phi-e-rơ sau khi Đức Thánh Linh đã giáng lâm. Công vụ 2:21-41

21 Vả lại ai cầu khẩn danh Chúa thì sẽ được cứu.

22 Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời nầy: Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét, tức là Người mà Đức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ ở giữa các ngươi, để làm chứng cho Người trong vòng các ngươi, như chính các ngươi đều biết.

Trong câu 21 chúng ta thấy việc kêu cầu danh Chúa mang đến sự cứu rỗi, và Sứ Đồ bắt đầu phân tích hay rao giảng làm thế nào để có được sự cứu rỗi.

Việc đầu tiên là phải nghe. Mà nghe là nghe cái gì? Nghe về Đức Chúa Jêsus là Đấng mà Đức Chúa Trời đã dùng quyền năng và phép lạ để làm chứng cho. Kế đến là nghe về công việc của Đức Chúa Jêsus Christ.

  • Tức là nghe về sự chết, sự chôn và sự sống lại của Đấng Christ.
  • Sự chết của Đấng Christ là sự định trước của Đức Chúa Trời vì Đấng Christ phải chết vì tội của cả thế gian.

29 Hỡi anh em, ta thật có thể nói cách vững vàng với anh em về tổ Đa-vít rằng người đã chết và chôn rồi, ngày nay mồ mả người còn ở giữa chúng ta. 30 Nhưng, vì người là đấng tiên tri, và biết Đức Chúa Trời đã thề hứa với người sẽ cho một hậu tự người ngồi trên ngai mình, 31 thì người đã thấy trước và nói trước về sự sống lại của Đấng Christ rằng: Ngài chẳng bị để nơi Âm phủ, và xác thịt Ngài chẳng thấy sự hư nát.

Mọi người trên thế gian nay khi chết đều phải đem chôn và xác thịt đó trở về bụi tức là hư nát. Nhưng Đấng mà Đức Chúa Trời định cho phải sống lại thì xác thịt không hề thấy sự hư nát và chẳng bị để nơi âm phủ. Và cũng chính Đấng Christ là hậu tự của vua Đa-vít sẽ trị vị vương quốc Đức Chúa Trời hay vương quốc Đấng Christ.

32 Đức Chúa Jêsus nầy, Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, và chúng ta thảy đều làm chứng về sự đó. 33 Vậy sau khi Ngài đã được đem lên bên hữu Đức Chúa Trời, và từ nơi Cha đã nhận lấy Đức Thánh Linh mà Cha đã hứa ban cho, thì Ngài đổ Đức Thánh Linh ra, như các ngươi đương thấy và nghe.

Như vậy về phần xác thịt Đấng Christ đã chết thế cho loài người và gánh tội lỗi cả thế gian, nhưng về thần linh thì việc từ kẻ chết sống lại tỏ ra Ngài là con Đức Chúa Trời hằng sống có quyền phép, và Ngài sống lại vì sự sống của chúng ta. Hiện Đấng Christ đang sống để trị vì vương quốc của Ngài như trên có nói “Ngài đã được đem lên bên hữu Đức Chúa Trời” thì Đấng Christ ban Đức Thánh Linh xuống cho người tin theo Ngài. Như chính Các Sứ Đồ là những người đầu tiên tin theo Ngài thì họ đã nhận Đức Thánh Linh từ sự trị vì của Đấng Christ. Thì Các Sứ Đồ sống bởi Đức Thánh Linh và nói bởi Ngài. Như trên có nói rằng “Ngài đổ Đức Thánh Linh ra, như các ngươi đương thấy và nghe”. Tức là những người đang nghe lời Các Sứ Đồ giảng là đang nghe Đức Thánh Linh vậy.

34 Vì vua Đa-vít chẳng hề lên trời, nhưng chính người có nói:

Chúa đã phán cùng Chúa tôi rằng:

Hãy ngồi bên hữu ta, 35 Cho đến chừng nào ta để kẻ thù nghịch ngươi dưới chân ngươi, đặng làm bệ cho ngươi.

36 Vậy, cả nhà Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tôn Jêsus nầy, mà các ngươi đã đóng đinh trên thập tự giá, làm Chúa và Đấng Christ.

Vậy đến đây thì kết luận rằng Đức Chúa Trời đã tôn Đức Chúa Jêsus làm Chúa và Đấng Christ. Và ai kêu cầu danh Chúa tức kêu cầu danh Christ thì sẽ được cứu!

37 Chúng nghe bấy nhiêu lời, trong lòng cảm động, bèn hỏi Phi-e-rơ và Các Sứ Đồ khác rằng: Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi?

Chúng ta thấy rằng khi nghe đến đó thì họ tin, làm sao chúng ta biết là họ tin vì lòng họ được cảm động. Nếu ai trong chúng ta có người thân yêu và nghe người thân yêu của mình nói rằng “tôi gần qua đời” thì trong lòng tự khắc nặng trĩu, quặn thắt, đau đớn, buồn bã, cảm nhận sự mất mát đang đến, bồn chồn, rồi kế đến rơi lệ và thốt lên lời ai ca (lời sầu não, bi thương). Đó là hành động tin vào lời của người nói từ sự nghe của mình.

Như vậy vì cớ lời giảng của Sứ Đồ bởi Đức Thánh Linh, lời đó tác động vào lòng người nghe làm cho người nghe nhận biết tội lỗi của mình thì họ tin và kêu cầu rằng “Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi?” nếu họ chưa nghe sẽ không tin. Lại nếu không tin thì sẽ không kêu cầu. Nhưng như trên cho thấy họ đã nghe và tin rồi kêu cầu.

Trong câu hỏi trên cho thấy rằng họ đang kêu cầu danh Chúa vì “chúng ta phải làm chi?” để có sự cứu rỗi. Phải làm chi? Là đang chỉ đến hành động, có nghĩa là chúng tôi phải có hành động gì để có sự cứu rỗi! Đồng nghĩa rằng làm cách nào để có được sự sống!

B.     Mạng lịnh ăn năn.

38 Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-têm, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh. 39 Vì lời hứa thuộc về các ngươi, con cái các ngươi, và thuộc về hết thảy mọi người ở xa, tức là bao nhiêu người mà Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ gọi.

Hối cải hay ăn năn có nghĩa là từ bỏ việc đang làm, đường đang đi, lối sống đang có. Ví dụ về người con trai cho ta thấy sự ăn năn.

Các ngươi nghĩ làm sao? Một người kia có hai đứa con trai; nói cùng đứa thứ nhứt, mà rằng: Con ơi, bữa nay con hãy ra làm vườn nho. Ðứa ấy thưa rằng: Vâng; rồi không đi. Ðoạn, người cha đi đến đứa thứ hai, cũng bảo như vậy. Ðứa nầy thưa rằng: Tôi không muốn đi. Nhưng sau ăn năn, rồi đi. Trong hai con trai đó, đứa nào làm theo ý muốn của cha? Họ đáp rằng: Ðứa thứ hai. ... Mathiơ 21:28-31

Chúng ta thấy đứa thứ hai đã nói là không đi tức có ý không muốn đi nhưng sau lại ăn năn có nghĩa là hành động đổi ý, rồi đi.

Ăn năn là mạng lịnh từ Đức Chúa Trời và là việc làm theo ý Đức Chúa Trời.

Vậy, bởi chúng ta là dòng dõi Ðức Chúa Trời, thì chớ nên ngờ rằng Chúa giống như vàng, bạc, hay là đá, bởi công nghệ và tài xảo của người ta chạm trổ nên. Vậy thì, Ðức Chúa Trời đã bỏ qua các đời ngu muội đó, mà nay biểu hết thảy các người trong mọi nơi đều phải ăn năn, vì Ngài đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, bởi Người Ngài đã lập, và Ðức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại, để làm chứng chắc về điều đó cho thiên hạ. Công vụ 17:29-31

C.     Xưng nhận jêsus là christ.

Nhưng sự công bình đến bởi đức tin, thì nói như vầy: Chớ nói trong lòng ngươi rằng: Ai sẽ lên trời? ấy là để đem Ðấng Christ xuống; hay là: Ai sẽ xuống vực sâu? ấy là để đem Ðấng Christ từ trong kẻ chết lại lên. Nhưng nói làm sao? Ðạo ở gần ngươi, ở trong miệng và trong lòng ngươi. Ấy là đạo đức tin và chúng ta giảng dạy. Vậy nếu miệng ngươi xưng Ðức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Ðức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi. Vả, Kinh-Thánh nói rằng: Kẻ nào tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn. Trong người Giu-đa và người Gờ-réc không có sự phân biệt gì hết, vì họ có chung một Chúa, giàu ơn đối với mọi kẻ kêu xin Ngài. Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. Roma 10:6-13

Bởi đó, ai xưng ta ra trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha ta ở trên trời; Mathiơ 10:32

Ngài phán rằng: Còn các người thì xưng ta là ai? Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Chúa là Ðấng Christ, con Ðức Chúa Trời hằng sống. Mathiơ 16:15-16

Ðức Thánh Linh phán cùng Phi-líp rằng: Hãy lại gần và theo kịp xe đó. Phi-líp chạy đến, nghe người Ê-thi-ô-bi đọc sách tiên tri Ê-sai, thì nói rằng: Ông hiểu lời mình đọc đó chăng? Hoạn quan trả lời rằng: Nếu chẳng ai dạy cho tôi, thể nào tôi hiểu được? Người bèn mời Phi-líp lên xe ngồi kề bên. Vả, chỗ người đọc trong Kinh Thánh là đoạn nầy: Người đã bị kéo đi như con chiên đến hàng làm thịt, Lại như chiên con câm trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng mở miệng. Trong khi người hèn hạ thì sự đoán xét Người đã bị cất đi. Còn ai sẽ kể đời của Người? Vì sự sống Người đã bị rút khỏi đất rồi. Hoạn quan cất tiếng nói cùng Phi-líp rằng: Tôi xin hỏi ông, đấng tiên tri đã nói điều đó về ai? Có phải nói về chính mình người chăng, hay là về người nào khác? Phi-líp bèn mở miệng, bắt đầu từ chỗ Kinh Thánh đó mà rao giảng Ðức Chúa Jêsus cho người. Hai người đương đi dọc đường, gặp chỗ có nước, hoạn quan nói rằng: Nầy, nước đây, có sự gì ngăn cấm tôi chịu phép báp-tem chăng? Phi-líp nói: Nếu ông hết lòng tin, điều đó có thể được. Hoạn quan trả lời rằng: Tôi tin rằng Ðức Chúa Jêsus Christ là Con Ðức Chúa Trời. Công vụ 8:29-37

Khi ăn năn từ bỏ con đường tội lỗi, từ bỏ ý làm tôi mọi cho tội lỗi và muốn thoát khỏi sự chết. Thì việc tiếp theo là phải xưng nhận niềm tin của mình vì bởi nghe lời giảng về Đấng Christ mà trong lòng tin vào lời giảng thì bởi môi miệng xưng ra mà kêu cầu sự cứu rỗi nơi Đấng Christ mà được cứu! Câu cuối cho thấy hoạn quan xưng nhận Đức Chúa Jêsus Christ là con Đức Chúa Trời. Tức là tin vào lời giảng về Đấng Christ.

Đến đây thì chưa xong đâu vì mới chỉ là một bước trong các bước của sự cứu rỗi mà thôi vì bước đỉnh điểm của sự cứu rỗi vẫn còn ở phía trước. Vì nếu đến đây mà kết luận rằng chỉ xưng ra hay gọi “Chúa... Chúa” là được cứu thì Đức Chúa Jêsus Christ cảnh báo rằng:

Sao các ngươi gọi ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán? Luca 6:46

Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Mathiơ 7:21

D.     Chịu báp-tem sẽ được cứu.

Đó là mạng lịnh hay lời của Đấng Christ.

Ngài phán cùng Các Sứ Đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tinchịu phép báp-tem, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt. Mac 16:15-16

Và cũng là đức tin theo ý Đấng Christ. Hay còn gọi là đạo đức tin.

đặng mở mắt họ, hầu cho họ từ tối tăm mà qua sáng láng, từ quyền lực của quỉ Sa-tan mà đến Ðức Chúa Trời, và cho họ bởi đức tin nơi ta được sự tha tội, cùng phần gia tài với các thánh đồ. Công vụ 26:18

Người tin phải là người được nghe về lời Đấng Christ. Kế đó tin lời Đấng Christ, rồi quyết định ăn năn, tiếp nữa là xưnh nhận niềm tin của mình. Đó chỉ mới là phần Ai tin và phần tiếp theo là chịu phép báp-tem, sẽ được rỗi. Đây là phương cách đi vào trong Đấng Christ và là điều kiện không thể bị tách rời.

Vì cớ là mạng lịnh của Đấng Christ nên người tội nhân phải vâng phục vì sự vâng phục mang đến sự cứu rỗi.

Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu, và sau khi đã được làm nên trọn vẹn rồi, thì trở nên cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho kẻ vâng lời Ngài, Hơbơrơ 5:8-9

Anh em đã vâng theo lẽ thật làm sạch lòng mình, đặng có lòng yêu thương anh em cách thật thà, nên hãy yêu nhau sốt sắng hết lòng; 1Phi-e-rơ 1:22

Đấng Christ là cội rễ của sự cứu rỗi đời đời không phải cho toàn thế gian này mà chỉ cho kẻ vâng lời Ngài thôi. Lời của Đấng Christ chính là lẽ thật, tội nhân cần phải vâng theo lời phán dạy của Đấng Christ được truyền bởi Các Sứ Đồ là tin và chịu phép báp-tem để được làm sạch lòng mình.

Sứ Đồ xác nhận việc nghe rồi tin mà không chịu báp-tem là không được cứu.

40 Phi-e-rơ lại lấy nhiều lời giảng nữa mà giục lòng và khuyên lơn chúng rằng: Các ngươi khá cứu mình thoát khỏi giữa dòng dõi gian tà nầy!

Nếu các người nghe Sứ Đồ giảng rồi chỉ tin mà được cứu thì làm sao trong mạng lịnh của Đấng Christ lại truyền chịu báp-tem? Lại nếu những người nghe rồi tin trước khi chịu báp-tem mà được cứu hay trở thành con Đức Chúa Trời, thì làm sao Sứ Đồ Phi-e-rơ hay Đức Thánh Linh nói bởi ông, lại nói thêm những lời giục lòng họ rằng “Các ngươi khá cứu mình thoát khỏi giữa dòng dõi gian tà nầy!

Như vậy việc tin vào Tin Lành mang đến sự cứu rỗi là đúng, nhưng phải làm trọn các mạng lịnh về sự cứu rỗi thì mới được cứu. Như thế trường hợp chỉ tin thôi là chưa được cứu, hoặc chưa chịu báp tem mà nói rằng đã được cứu là hoàn toàn không làm theo lời Đấng Christ tức không vâng phục Tin Lành Đấng Christ. Cũng như nghịch lại với lời của Đức Thánh Linh.

Nghe hay tin mà không làm theo (chịu báp-tem) bị gọi là người dại dột, cũng như người không tin. Đồng một đức tin với ma-quỉ.

Kẻ nào nghe lời ta phán đây, mà không làm theo, khác nào như người dại cất nhà mình trên đất cát. Mathiơ 7:26

Ai tin và chịu phép báp-tem, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt. (Mac 16:16)

Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm, thì ích chi chăng? Ðức tin đó cứu người ấy được chăng? Ví thử có anh em hoặc chị em nào không quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày, mà một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích gì chăng? Về đức tin, cũng một lẽ ấy; nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết. Giacơ 2:14-17

Ngươi tin rằng chỉ có một Ðức Chúa Trời mà thôi, ngươi tin phải; ma quỉ cũng tin như vậy và run sợ. Nhưng, hỡi người vô tri kia, ngươi muốn biết chắc rằng đức tin không có việc làm là vô ích chăng? Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, khi dâng con mình là Y-sác trên bàn thờ, há chẳng từng cậy việc làm được xưng công bình hay sao? Thế thì, ngươi thấy đức tin đồng công với việc làm, nhờ việc làm mà đức tin được trọn vẹn. Giacơ 2:19-22

Tin rằng ly nước sẽ làm hết khát, nhưng không chịu cầm ly nước mà uống thì niềm tin ấy làm cho hết khát được chăng?

Lời cảnh báo từ Các Sứ Đồ của Đấng Christ nếu không vâng theo các mạng lịnh của Tin Lành Đấng Christ.

Vả, theo sự công bình Ðức Chúa Trời, thì ắt là Ngài lấy điều khổ báo cho những kẻ làm khổ anh em, và cho anh em, là kẻ chịu khổ, được nghỉ ngơi với chúng tôi, trong khi Ðức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng, báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Ðức Chúa Trời, và không vâng phục Tin Lành của Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta. Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài, 2Têsalônica 1:6-9

Vậy trở lại bài giảng của Sứ Đồ Phi-e-rơ. Chúng ta thấy sau khi giục lòng họ và họ vâng phục Tin Lành thì đều chịu báp-tem.

41 Vậy, những kẻ nhận lời đó đều chịu phép báp-têm; và trong ngày ấy, có độ ba ngàn người thêm vào Hội thánh.

Sau khi chịu báp-tem thì họ được cứu bởi đức tin nhờ ân điển. Hay được cứu bởi đức tin nhờ Đấng Christ.

Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Ðức Chúa Trời. Êphêsô 2:8.

1.      Mục đích chịu phép báp-tem.

     Để được tha tội.

Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Ðức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Ðức Thánh Linh. Công vụ 2:38

     Vì sự cứu rỗi, sự sống đời đời.

Ai tin và chịu phép báp-tem, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt. Mac 16:16

     Để đi vào trong Đấng Christ.

Vì chưng anh em bởi tin Ðức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Ðức Chúa Trời. Vả, anh em thảy đều chịu phép báp tem trong Ðấng Christ, đều mặc lấy Ðấng Christ vậy. Galati 3:26-27

     Chịu phép báp-tem để có sự hiệp một trong thân thể Đấng Christ. Tức là đi vào một Hội Thánh của Đấng Christ. Hay trở nên hiệp một trong Đức Chúa Trời.

Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-tem chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa. 1Côrinhtô 12:13

… Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh. Công vụ 2:47

Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến. Con đã ban cho họ sự vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để hiệp làm một cũng như chúng ta vẫn là một: Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương Con. Cha ôi, Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho Con cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con, là vinh hiển Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu Con trước khi sáng thế. Hỡi Cha công bình, thế gian chẳng từng nhận biết Cha; song Con đã nhận biết Cha, và những kẻ nầy nhận rằng chính Cha đã sai Con đến. Con đã tỏ danh Cha ra cho họ, Con lại sẽ tỏ ra nữa, để cho tình yêu thương của Cha dùng yêu thương Con ở trong họ, và chính mình Con cũng ở trong họ nữa. Giăng 17:20-26

2.      Phép báp-tem của Đấng Christ là gì?

     Là sự chôn.

Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp tem trong Ðức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp tem trong sự chết Ngài sao? Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp tem trong sự chết Ngài, hầu cho Ðấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy. Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau: vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa. Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi. Vả, nếu chúng ta đã cùng chết với Ðấng Christ, thì chúng ta tin rằng mình cũng sẽ sống lại với Ngài, Roma 6:3-8

Vậy phép báp-tem mang ý nghĩa là sự chôn đi con người tội lỗi trong sự chết của Đấng Christ. Tức là người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa. Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi.

Khi Chúa của chúng ta tức là Đấng Christ bị đóng đinh và chết trên thập tự thì người ta đem chôn Ngài trong huyệt.

Bấy giờ là ngày sắm sửa, nghĩa là hôm trước ngày Sa-bát; khi đã chiều tối, có một người tên là Giô-sép, Ở thành A-ri-ma-thê, là nghị viên tòa công luận có danh vọng, cũng trông đợi nước Ðức Chúa Trời. Người bạo gan đến Phi-lát mà xin xác Ðức Chúa Jêsus. Phi-lát lấy làm lạ về Ngài chết mau như vậy, bèn đòi thầy đội đến mà hỏi thử Ngài chết đã lâu chưa. Vừa nghe tin thầy đội trình, thì giao xác cho Giô-sép. Người đã mua vải liệm, cất xác Ðức Chúa Jêsus xuống khỏi cây thập tự, dùng vải liệm vấn lấy Ngài, rồi để xác trong huyệt đã đục trong hòn đá lớn, đoạn, lăn một hòn đá chận cửa huyệt lại. Vả, Ma-ri Ma-đơ-len cùng Ma-ri mẹ Giô-sê, đều thấy chỗ táng Ngài. Mac 15:42-47

Chúng ta thấy họ đem xác Ngài để trong huyệt rồi lăn hòn đá lớn chận cửa huyệt lại. Vậy thì từ lúc chết đến lúc đặt xác Ngài trong huyệt chúng ta còn thấy xác Ngài, nhưng đến lúc lăn hòn đá lại thì chỉ còn thấy cái huyệt mà trong đó có xác Ngài mà thôi. Đấng Christ đã được chôn trong huyệt ba ngày như lời Ngài phán.

Như vậy sự chôn có nghĩa là làm cho cái gì đó mất đi không còn thấy nữa, việc an táng của thời kỳ Đấng Christ và chúng ta ngày nay không khác nhau vì về mặt ý nghĩa đều là đem xác chết đi chôn dưới lòng đất hoặc trong huyệt để cách ly xác chết với thế giới sự sống.

Xem thêm các đoạn kinh thánh nói về việc chôn.

Ðức Chúa Jêsus bèn nói tỏ tường cùng môn đồ rằng: La-xa-rơ chết rồi. Ta vì các ngươi mừng không có ta tại đó, để cho các ngươi tin; nhưng chúng ta hãy đi đến cùng người. Nhơn đó, Thô-ma, gọi là Ði-đim, nói với môn đồ khác rằng: Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài! Khi Ðức Chúa Jêsus đến nơi, thấy đã chôn La-xa-rơ trong mộ bốn ngày rồi. Giăng 11:14-17

Bấy giờ, Ðức Chúa Jêsus lại đau lòng nữa, bèn đến phần mộ; mộ bằng một cái hang, trước cửa hang có một hòn đá chận lại. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy lăn hòn đá đi. Ma-thê, là em gái kẻ chết, thưa rằng: Lạy Chúa, đã có mùi, vì người nằm đó bốn ngày rồi. Giăng 11:38-39

Như trên cho thấy xác chết thì phải đem chôn, một khi đã chôn thì không còn thấy xác nữa.

Tiên tri Giô-na muốn chết để không vâng phục ý định của Đức Chúa Trời nên Ngài đem Giô-na đi chôn trong bụng cá lớn ba ngày. Nội trong ba ngày đó như là âm phủ đối với Giô-na và ông ăn năn cùng Đức Chúa Trời. Nên Ngài đem ông ra khỏi bụng cá tức khỏi cái mồ bằng bụng cá đã chôn Giô-na. Việc của tiên tri Giô-na là việc tương tự như từ kẻ chết sống lại vậy và là hình bóng cho sự chết và chôn của Đấng Christ.

Ngài đáp rằng: Dòng dõi hung ác gian dâm này xin một dấu lạ, nhưng sẽ chẳng cho dấu lạ khác ngoài dấu lạ của đấng tiên tri Giô-na. Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng một thể ấy, Con người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm. Ðến ngày phán xét, dân thành Ni-ni-ve sẽ đứng dậy với dòng dõi nầy mà lên án nó, vì dân ấy đã nghe lời Giô-na giảng và ăn năn; mà đây nầy, có một người tôn trọng hơn Giô-na! Mathiơ 12:39-41

Như vậy phép báp-tem là sự chôn. Mà chôn cái gì? Chôn con người tội lỗi, người bị định phải chết, người tánh xác thịt.

     Chôn ở đâu hay chôn bằng cái gì?

Chúng ta biết rằng phép báp-tem là mạng lịnh của Đức Chúa Trời truyền Giăng để chuẩn bị lòng người chịu báp-tem để đón nhận Đấng Christ, và cũng là phép báp-tem làm cho Đức Chúa Jêsus để bày tỏ ra Ngài là con Đức Chúa Trời. Phép báp-tem của Giăng và của Đấng Christ chỉ khác nhau ở mục đích chịu phép báp-tem còn phương cách là giống nhau.

Trước khi Đấng Christ làm hoàn thành ý Đức Chúa Trời thì phép báp-tem của Giăng đã có. Yếu tố cần có để làm báp-tem cho người chịu là nước.

Họ lại hỏi rằng: Nếu ông chẳng phải Ðấng Christ, chẳng phải Ê-li, chẳng phải đấng tiên tri, thì cớ sao ông làm phép báp tem? Giăng trả lời: Về phần ta, ta làm phép báp tem bằng nước; nhưng có một Ðấng ở giữa các ngươi mà các ngươi không biết. Ấy là Ðấng đến sau ta, ta chẳng đáng mở dây giày Ngài. Những việc đó đã xảy ra tại thành Bê-tha-ni, bên kia sông Giô-đanh, là nơi Giăng làm phép báp tem. Qua ngày sau, Giăng thấy Ðức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Ðức Chúa Trời, là Ðấng cất tội lỗi thế gian đi. Ấy về Ðấng đó mà ta đã nói: Có một người đến sau ta, trổi hơn ta, vì người vốn trước ta. Về phần ta, ta vốn chẳng biết Ngài; nhưng ta đã đến làm phép báp-tem bằng nước, để Ngài được tỏ ra cho dân Y-sơ-ra-ên. Giăng lại còn làm chứng nầy nữa: Ta đã thấy Thánh Linh từ trời giáng xuống như chim bồ câu, đậu trên mình Ngài. Về phần ta, ta vốn không biết Ngài; nhưng Ðấng sai ta làm phép báp-tem bằng nước có phán cùng ta rằng: Ðấng mà ngươi sẽ thấy Thánh Linh ngự xuống đậu lên trên, ấy là Ðấng làm phép báp-tem bằng Ðức Thánh Linh. Giăng 1:25-33

Phép báp-tem của Đức Chúa Jêsus Christ làm bằng nước và Đức Thánh Linh.

Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Ðức Chúa Trời. Giăng 3:5

Bấy giờ Phi-e-rơ lại cất tiếng nói rằng: Người ta có thể từ chối nước về phép báp-tem cho những kẻ đã nhận lấy Ðức Thánh Linh cũng như chúng ta chăng? Người lại truyền làm phép báp-tem cho họ nhân danh Ðức Chúa Jêsus Christ. Họ bèn nài người ở lại với mình một vài ngày. Công vụ 10:47-48

Hai người đương đi dọc đường, gặp chỗ có nước, hoạn quan nói rằng: Nầy, nước đây, có sự gì ngăn cấm tôi chịu phép báp-tem chăng? Phi-líp nói: Nếu ông hết lòng tin, điều đó có thể được. Hoạn quan trả lời rằng: Tôi tin rằng Ðức Chúa Jêsus Christ là Con Ðức Chúa Trời. Người biểu dừng xe lại; rồi cả hai đều xuống nước, và Phi-líp làm phép báp-tem cho hoạn quan. Công vụ 8:36-38

Như trên cho thấy một người tái sanh thì phải nhờ nước và Đức Thánh Linh, mà nước ở đây tức nước về phép báp-tem hay chôn bằng nước, trong nước. Vậy phép báp-tem là sự chôn bằng nước. Như vậy cần nhiều nước để chôn.

Khi ấy, Ðức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê đến cùng Giăng tại sông Giô-đanh, đặng chịu người làm phép báp-tem. Mathiơ 3:13

Vả, trong những ngày đó, Ðức Chúa Jêsus đến từ Na-xa-rét là thành xứ Ga-li-lê, và chịu Giăng làm phép báp-tem dưới sông Giô-đanh. Mac 1:9

Kế đó, Ðức Chúa Jêsus đi với môn đồ đến đất Giu-đê; Ngài ở với môn đồ tại đó, và làm phép báp tem. Giăng cũng làm phép báp tem tại Ê-nôn, gần Sa-lim, vì ở đó có nhiều nước, và người ta đến đặng chịu phép báp tem. Giăng 3:22-23

Như vậy như người ta chôn người chết trong lòng đất thể nào, thì ngươi bị chôn trong phép báp-tem bằng nước cũng thể ấy, nghĩa là sự nhận chìm, nhúng chìm, ngập sâu trong nước. Vì nước như một cái huyệt để chôn xác chết, mà Đấng Christ đã bị chôn trong lòng đất không thấy xác nữa thì chúng ta cũng phải bị chôn trong nước mà không thấy thân thể nữa, tức là phải chìm ngập hoàn toàn trong nước không để cho một chi thể nào còn xót lại trên mặt nước, phải chìm hoàn toàn.

Không có việc vẩy (rẩy, dội) nước hay tưới nước gì hết, vì mạng lịnh là chôn.

Anh em đã bởi phép báp-tem được chôn với Ngài, thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin trong quyền phép Ðức Chúa Trời, là Ðấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại. Côlôse 2:12
41 Vậy, những kẻ nhận lời đó đều chịu phép báp-têm; và trong ngày ấy, có độ ba ngàn người thêm vào Hội thánh.Trở lại bài giảng của Sứ Đồ Phi-e-rơ trong Công-vụ đoạn 2.

47 ...Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.

Như vậy sau khi nghe Tin Lành Đấng Christ về sự chết, sự chôn và sự sống lại của Đấng Christ thì có khoảng độ 3000 người nhận lấy Tin Lành Đấng Christ và chịu phép báp-tem. Sau khi chịu phép báp-tem thì kinh thánh xác nhận họ được cứu khi được cứu lập tức họ được thêm vào Hội Thánh bởi Chúa. Trước khi đến mục tiếp theo chúng ta cùng nhận biết một số hình bóng về đức tin trong Đấng Christ.

IV. Tóm lại.

  • Nguồn gốc sự cứu rỗi từ đâu mà đến?
  • Từ Đức Chúa Trời.
  • Ai là Đấng cứu chuộc loài người?
  • Đức Chúa Jêsus Christ.
  • Ai là đấng trung bảo?
  • Đức Chúa Jêsus Christ.
  • Bởi danh nào mà loài người được cứu?
  • Danh Christ.
  • Điều gì cứu loài người?
  • Việc làm của Đấng Christ tức sự chết và đổ huyết trên thập tự, chôn và sống lại cầm quyền trên trời.
  • Lời của Đấng Christ.
  • Bằng cách nào Tin Lành đến với tội nhân.
  • Qua Các Sứ Đồ.
  • Khi nào loài người được cứu?
  • Chịu phép báp-tem đi vào trong Đấng Christ, mặc lấy Đấng Christ.

 Có hai phần chúng ta cần nắm vững.

  • Ý muốn của Đức Chúa Trời muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. Được cứu trong Đấng Christ và nhận Đức Thánh Linh để hiểu biết lẽ thật.
  • Vì ý muốn đó chức vụ Sứ Đồ được chỉ định để dạy mọi người về đức tin và lẽ thật.

     Trách nhiệm của chức vụ Sứ Đồ là:

a)      Giảng về Đấng Christ – rao tin lành Đấng Christ.

1)      Ai tin và chịu phép báp-tem, sẽ được rỗi. Các Sứ Đồ làm phép báp-tem cho người tin Đấng Christ. Đây Là Đức Tin.

2)      Các Sứ Đồ dạy người đã tin vâng giữ hết mọi điều Đấng Christ truyền. Tức là Đức Thánh Linh bày tỏ và dẫn dắt Các Sứ Đồ vào mọi lẽ thật về Đấng Christ để truyền lại cho người đã tin. Đây Là Lẽ Thật.

     Trách nhiệm của người tin.

b)      Nghe tin lành Đấng Christ từ Các Sứ Đồ.

1)      Tin và chịu phép báp-tem để được cứu rỗi trong Đấng Christ.

2)      Vâng giữ hết mọi lẽ thật về Đấng Christ được truyền từ Đức Thánh Linh qua Các Sứ Đồ. Cùng đứng vững vàng trong Tin Lành Đấng Christ.

Tags: Hội Thánh, Phép Báp-tem, Tin Lành

In bài này Gửi Email bài này

Bài Viết Liên Quan